Sống khoẻ

Viêm màng ngoài tim là bệnh gì? Có nguy hiểm không?

Viêm màng ngoài tim thường xuất hiện đột ngột nhưng không kéo dài, khi triệu chứng vẫn dai dẳng thì đã chuyển sang giai đoạn mạn tính. Hầu hết viêm màng ngoài tim xảy ra nhẹ và tự cải thiện, điều trị những trường hợp nặng thường phải dùng thuốc và có khi phải phẫu thuật (dù rất hiếm).

1. Viêm màng ngoài tim là gì?

Viêm màng ngoài tim là tình trạng viêm kích thích của màng ngoài tim, màng mỏng bao quanh tim. Viêm màng ngoài tim thường gây ra đau ngực và đôi khi các triệu chứng khác. Viêm màng ngoài tim thường đột ngột và ngắn (cấp tính).

Viêm màng ngoài tim thường gây ra đau ngựcViêm màng ngoài tim thường gây ra đau ngực

Khi các triệu chứng dần dần phát triển thêm hoặc kéo dài, tình trạng này được coi là mãn tính. Cơn đau ngực mạnh liên kết với viêm màng ngoài tim xảy ra khi bị viêm hay bị kích thích, hai lớp màng ngoài tim chà, cọ sát với nhau.

Bệnh thường bắt đầu đột ngột nhưng không kéo dài (cấp tính). Khi các triệu chứng phát triển dần dần hoặc kéo dài, viêm màng ngoài tim được coi là mãn tính.

2. Nguyên nhân bệnh viêm màng ngoài tim

Bình thường, 2 lớp màng ngoài tim trượt lên nhau bởi ở giữa có 1 lớp dịch trơn mỏng. Khi bị viêm màng ngoài tim, lớp màng này bị kích ứng do phản ứng viêm sẽ gây đau ngực.

Viêm màng ngoài tim thường khó xác định được nguyên nhânViêm màng ngoài tim thường khó xác định được nguyên nhân

  • Nguyên nhân viêm màng ngoài tim thường khó xác định. Trong hầu hết các trường hợp, các bác sĩ không thể xác định nguyên nhân (vô căn) hoặc nghi ngờ nhiễm virus.
  • Viêm màng ngoài tim cũng có thể phát triển sau một cơn đau tim lớn, do sự kích thích của cơ tim bị tổn thương tiềm ẩn. Ngoài ra, một dạng viêm màng ngoài tim chậm trễ có thể xảy ra vài tuần sau khi bị đau tim hoặc phẫu thuật tim.
  • Viêm màng ngoài tim chậm trễ này được gọi là hội chứng Dressler. Hội chứng Dressler cũng có thể được gọi là hội chứng cắt bỏ sau phẫu thuật, hội chứng nhồi máu sau cơ tim và hội chứng chấn thương sau tim.

Các nguyên nhân khác gây viêm màng ngoài tim bao gồm:

  • Bệnh tự miễn toàn thân: có thể bao gồm lupus và viêm khớp dạng thấp.
  • Chấn thương: chấn thương ở tim hoặc ngực có thể dẫn đến viêm màng ngoài tim .
  • Một số bệnh lý khác: có thể bao gồm suy thận, AIDS, bệnh lao và ung thư.
  • Một số loại thuốc có thể gây viêm màng ngoài tim.

3. Triệu chứng viêm màng ngoài tim

3.1. Viêm màng ngoài tim có dịch điển hình

Lâm sàng

Triệu chứng toàn thân:

Tùy thuộc vào nguyên nhân: có thể sốt, chán ăn, mệt mỏi, gầy sút.

Triệu chứng cơ năng:
  • Đau ngực: Rất thường gặp, đau lan tỏa không thành cơn kèm cảm giác đè ép ở ngực trái.
  • Khó thở: kiểu nhanh nông, vật vã bất an.
  • Khó nuốt: do tim đè vào thực quản phía sau, kèm theo có ho và nấc.
Triệu chứng thực thể:

– Nhìn, sờ: Mỏm tim đập yếu hay cảm giác không thấy đập. Gõ: diện đục của tim lớn.

– Nghe: Nhịp tim nhanh, tiếng tim mờ xa xăm do bị cản bởi màng nước. Nếu dịch ít sẽ nghe tiếng cọ màng ngoài tim (khi nín thở tiếng này vẫn còn) dấu nầy quan trọng vì nó xác định có dịch màng ngoài tim.

Nghe nhịp tim chẩn đoán viêm màng ngoài timNghe nhịp tim chẩn đoán viêm màng ngoài tim

– Trên thực tế lâm sàng khi có tràn dịch màng ngoài tim số lượng nhiều, có fibrin tạo vách ngăn khu trú lúc đó nghe vẫn thấy tiếng tim rõ. Có thể có tiếng cọ màng ngoài tim.

– Các dấu hiệu ứ trệ tuần hoàn ngoại vi:

  • Phù, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, phản hồi gan tĩnh mạch cổ (+) Áp lực tĩnh mạch ngoại biên tăng (bình thường 8-12 cm H2O) Áp lực tĩnh mạch trung tâm tăng  (bình thường 4-7 cm H2O).
  • Mạch nhanh nhỏ, huyết áp tối đa giảm, huyết áp kẹp. Có thể có mạch nghịch thường Kussmaul (khi hít vào mạch nhẹ đi). Bình thường khi hít vào mạch cũng nhỏ hơn lúc thở ra do áp lực phế nang tăng cao (máu về tâm thất trái ít. Trong viêm màng ngoài tim do thiểu năng tâm trương(máu về tim trái càng ít (do đó mạch nhẹ càng rõ hơn.
  • Sự nhanh về huyết áp tối đa ở cuối thì hít vào và thì thở ra trên 10 mmHg (bình thường dưới 10 mmHg).

Cận lâm sàng

Điện tâm đồ:

Do tổn thương (rối loạn chuyển hóa và viêm nhiễm) ở lớp cơ tim dưới thượng tâm mạc (phát sinh ra một dòng điện tổn thương, biểu hiện bằng một vectơ hướng từ tâm điểm tim đến trung tâm của vùng tổn thương; nghĩa là hướng xuống dưới, sang trái, và ra trước. Chiếu lên trục chuyển đạo ta thấy ST chênh lên đồng hướng ở các chuyển đạo (rối loạn tái cực).

Kiểm tra kết quả điện tâm đồKiểm tra kết quả điện tâm đồ

Theo Bots chia 3 giai đoạn biến đổi ST-T:

  • Giai đoạn 1: ST chênh lên đồng hướng ở các chuyển đạo ngoại biên và trước tim. Không có hình ảnh soi gương ở thành đối diện như trong nhồi máu cơ tim.
  • Giai đoạn 2: Sau 3 tuần.ST hạ dần xuống đường đồng điện. T dẹt xuống và T (-). Nhưng ST vẫn còn chênh lên.
  • Giai đoạn 3: Trên 1 tháng.ST chênh xuống và T (-) nhưng không nhọn và không đối xứng như trong bệnh cơ tim thiếu máu cục bộ.

Dấu hiệu điện thế giao lưu (luân phiên điện học): Do màng ngoài tim nhiều dịch tim di động mạnh như bơi trong nước. Sau mỗi chu chuyển tim, tim không trở về vị trí cũ.(sau mỗi lần khử cực tim ở vị trí khác, do đó trục QRS thay đổi.

Dấu điện thế giảm: tổng số trị tuyệt đối của Q,R,S của 3 chuyển đạo mẫu <15 mm ở chuyển đạo trước tim: ở V2 tổng biên độ / R+S / < 9 mm ở V5,V6 / Q+R+S / < 7 mm.

X – Quang
  • Soi: bóng tim to, co bóp yếu.
  • Chụp X.Q: tim to bè 2 bên ở cung dưới, góc hoành tim hình tù. Cuống tim ngắn. Do đó hình tim giống như quả bầu. Có thể thấy hình tim 2 bờ (bờ trong là bóng tim, bờ ngoài là màng ngoài tim), phổi sáng do thiểu năng tuần hoàn tâm trương.
Siêu âm tim

Cho biết số lượng dịch và vị trí của dịch ở các thành tim để quyết định chọc dò màng tim, trong dịch có nhiều fibrin và có vách hóa không.

Xem bề dày của màng ngoài tim để có hướng điều trị nội hoặc ngoại khoa kịp thời. Đánh giá những rối loạn huyết động thông qua hình ảnh đè ép thất phải ở thời kỳ tâm trương. Đánh giá chức năng tâm trương. Thăm dò áp lực trong tim phải. Thăm dò sức căng của thành tim.

Cụ thể trên siêu âm:
  • TM đo kích thước của khoảng dịch ở kỳ tâm tương từ đó tính ra dự đoán lượng dịch màng tim.
  • Thăm dò theo 2 bình diện 2D: Quan sát toàn bô tim một cách tổng quát, để xem lượng dịch khu trrú hay toàn thể.
  • Với 3 dấu hiệu chính cần đánh giá:
  • Khoảng trống Echo ở mặt sau của tim.
  • Khoảng trống Echo giảm nhiều hoặc mất hẳn ở chổ nối nhĩ trái và thất trái.
  • Màng ngoài tim không vận động.

Chú ý:  Lượng dịch: Dịch màng tim từ 30 ml đã có thể phát hiện được. Người bình thường khỏe mạnh có thể có 50 ml DMT. Khi lượng dịch bao phủ toàn bộ tim nhìn thấy được trên siêu âm 2D lượng dịch khoảng 300 ml.

  • Xác định chất chứa trong màng tim (phần bổ sung)
  • Vận động bất thường của tim trong TDMT: Vận động nghịch thường với vách liên thất.
Chọc dịch màng tim:

Lấy dịch bằng phương pháp chọc dịch màng timLấy dịch bằng phương pháp chọc dịch màng tim

Lấy dịch để chẩn đoán xác định, chẩn đoán nguyên nhân để có hướng điều trị đúng. Dịch màng tim thường có 3 mầu hay găp.

  • Dịch vàng chanh: Lao, vi rút, dị ứng, tự phát, bệnh hệ thống.
  • Mủ đặc trắng- nâu: Nhiễm trùng huyết.
  • Dịch mầu đỏ: K, lao, chấn thương chảy máu, do thuốc chống đông.
  • Chẩn đoán phân biệt.
  • Tim to: Do bệnh cơ tim, suy tim nặng
  • Cơn đau thắt ngực: Nhồi máu cơ tim, viêm phổi, v.v….

3.2. Viêm màng ngoài tim co thắt

Định nghĩa

Viêm màng ngoài tim co thắt là tình trạng màng ngoài tim viêm dầy, có khi nhiẽm vôi, bóp chặt lấy tim, làm tim không dãn ra được, dẫn đến giảm thể tích tâm trương,kéo theo giảm thể tích tâm thu hậu quả cuối cùng làm cung lượng tim giảm.

Chẩn đoán

Lâm sàng:

Nổi bật hội chứng ứ trệ tuần hoàn ngoại biên với:

  • Phù, gan to chắc bờ sắc, tĩnh mạch cổ nổi to.
  • Có thể có cổ chướng.
  • Xạm da nhẹ, nhất là ở các chi do lâu ngày giống như xơ gan, nhưng khác là không có tuần hoàn bàng hệ vùng trên rốn (cửa – chủ).
  • Nghe tim: – Tiếng tim thường mờ ít.
  • Tiếng cọ màng ngoài tim.
  • Có thể có “tiếng búa đập “ do trong kỳ tâm trương van 3 lá vưà mở ra, khối lượng máu lớn ứ trệ lại trong nhĩ phải đã nhào xuống va vào thành tâm thất đã bị dầy cứng không có khả năng dãn ra (ở kỳ tâm trương cách tiếng thứ 2 khoảng 0,10s – 0,13s).
Cận lâm sàng
  • X.Quang: Tim to ít, hoặc không to, bờ rõ, có thể có vôi hóa.
  • Điện tâm đồ: ST giảm, sóng T dẹt hoặc âm tính,có thể có rung nhĩ.
  • Siêu âm tim: Màng tim dày, co bóp không đồng đều. Thành sau thất trái có thể có dạng cao nguyên. Nhĩ trái to hơn bình thường.
  • TM (tĩnh mạch) chủ dưới và TM gan giãn. Chức năng tâm trương giảm. Chức năng tâm thu giảm.Đường cong vận tốc Đ.M.P.(động mạch phổi) có dạng 2 pha,do vận tốc giảm đi ở giữa kỳ tống máu. Doppler xung kinh điển và Doppler mô giúp nhận biết viêm màng ngoài tim co thắt cũng như phân biệt bệnh cơ tim hạn chế.
  • Thông tim: Đường cong áp lực thất (P) có bổ nhào – cao nguyên (dip-plateau). Áp lực thất (P) tăng đặc biệt áp lực cuối tâm trương, do màng tim xơ cứng cản trở cơ thất dãn ra (chẩn đoán phân biệt với bệnh cơ tim hạn chế loại xơ chun nội mạc).

3.3. Chèn ép tim

Là tình trạng áp lực trong khoang màng ngoài tim đột ngột tăng cao, ép vào tim và ngăn cản sự đổ đầy máu về tâm thất trong kỳ tâm trương gây thiểu năng tâm trương cấp, thiểu năng tâm thu cấp ngăn cản tim bóp.

Áp lực trong khoang màng tim tăng cũng cản trở tim giãn ra đầy đủ trong thì tâm trương. Do đó ít máu về tim, huyết áp và lưu lượng tim giảm. Nhịp tim tăng để bù trừ những biến đổi này, khi áp lực trong khoang màng tim đạt gần 15 cm nước, cung lượng tim và huyết áp sẽ giảm đột ngột hơn nữa và lâm sàng xuất hiện choáng.

Nếu áp lực trong màng ngoài tim không được hạ thấp (bằng cách lấy máu hoặc dịch ra), bệnh nhân sẽ tử vong. Chỉ 200 ml dịch hoặc máu là có thể gây tử vong.

Biến chứng chèn ép tim do viêm màng ngoài timBiến chứng chèn ép tim do viêm màng ngoài tim

Sinh lý bệnh

Bình thường áp lực trong khoang màng tim bằng 0 hay âm nhẹ, do đó hỗ trợ tăng sức hút máu về tim vào kỳ tâm trương. Khi dịch trong màng tim nhiều sẽ làm thay đổi áp lực của nó (lượng dịch lớn quá hoặc lượng dịch không nhiều nhưng hình thành quá nhanh) áp lực khoang màng tim sẽ gần bằng hay bằng áp lực trong tim, khi đó có dấu hiệu chẹn tim (tim hút máu về rất khó): tăng áp lực tĩnh mạch cổ, huyết áp kẹt, mạch nghịch thường, giảm cung lượng tim.

Chẩn đoán

Triệu chứng cơ năng

Khởi đầu đột ngột với khó thở dữ dội, đau ngực, vật vã, da xanh tái, toát mồ hôi.

Triệu chứng thực thể

Tim nhanh, tiếng tim mờ (khó nghe) mạch nghịch thường (KUSSMAUL). Dấu ứ trệ tuần hoàn ngoại biên rõ. (gan lớn, tĩnh mạch cổ nổi).

Ba dấu hiệu căn bản của chèn ép tim cấp là:

  • Tụt huyết áp, huyết áp giảm dần cho đến khi không đo được. Khi đã có dấu hiệu của choáng; lo lắng, bứt rứt, tái nhợt, da lạnh và ẩm và cuối cùng là mất tri giác.
  • Áp lực tĩnh mạch tăng. Áp lực tĩnh mạch có thể tăng đến 15-20cm nước. Kèm với tĩnh mạch cổ nổi rõ (tuy nhiên, gan có thể không to trong trường hợp chèn ép tim cấp).
  • Tiếng tim nhỏ, yên lặng, tiếng tim nghe xa xăm và mờ, không thấy được các ổ này vùng trước tim.

Hơn nữa có thể có mạch nghịch thường. Mạch nghịch thường là do sự giảm quá mức áp lực của mạch khi hít vào (bình thường giảm dưới 10mmHg). Có thể có dấu Kussmaul (tĩnh mạch cổ nổi khi hít vào).

Cận lâm sàng

X-Quang: Khi chèn ép tim cấp xảy ra trong trường hợp không có tràn dịch màng ngoài tim trước đó, thì trên phim X-quang thường không phát hiện được dấu bất thường vì tràn dịch màng ngoài tim ít hơn 250ml (nhưng có thể gây tử vong) không phát hiện được trên phim X-quang thông thường.

Khi chèn ép tim cấp xảy ra ở bệnh nhân đã có tràn dịch màng ngoài tim, trên phim X-quang có thể thấy bóng tim hình bầu, giống như cái bao hoặc bóng tim hình cầu với góc rất nhọn hợp bởi bờ dưới phải của màng ngoài tim với cơ hoành. Mặc dù không có hình ảnh nào tự nó xác định chẩn đoán tràn dịch màng ngoài tim nhưng có thể nghi ngờ nếu bóng tim to nhanh và kèm với trường phổi sáng.

Điện Tâm Đồ: Điện thế giao lưu toàn bộ (sóng P, QRS và T) được chẩn đoàn tràn dịch màng tim hoặc chèn ép tim. Tuy nhiên dấu hiệu này không phải luôn luôn có. Dấu hiệu điện tâm đồ điển hình của chảy máu trong màng tim là sóng T cao nhọn đột ngột ở các đào trình trước ngực. Điều này xảy ra dù có sóng T đi xuống trước đó.

Hơn nữa, chèn ép tim cấp do vỡ tim có thể gây ra nhịp chậm đột ngột và phân ly điện cơ. Điện thế phức bộ QRS thấp đột ngột trên điện tâm đồ khiến luôn luôn nghi ngờ rằng có tràn dịch màng tim.

Siêu âm tim - phương pháp chẩn đoán không xâm nhậpSiêu âm tim – phương pháp chẩn đoán không xâm nhập

Siêu Âm: Siêu âm là một phương pháp không xâm nhập, giúp chẩn đoán sớm nhất và chính xác nhất tràn dịch màng tim. Mặt khác cũng giúp nhận biết tình trạng ép tim.

  • TM: Thấy sự thay đổi bất thường buồng thất phải và trái theo chu kỳ thở: khi hít vào: thất phải dãn rộng, khi thở ra: thất phải hẹp lại. Ngược lại khi hít vào thất trái bị ép làm hẹp lại.
  • 2D: Nhìn thấy được toàn diện dịch trong  khoang màng tim, dấu đè sụp thất (P), nhĩ (P), nhĩ (T), lượng lớn khu trú ở phía sau.

Chú ý:

  • Dấu đè sụp thất (P) có độ nhạy cảm cao và độ chuyên biệt cao.
  • Dấu đè sụp thất (T): Sau khi mổ tim vách thất (P) và nhĩ (P) thường dính sát vào thành ngược. nên không có biểu hiện ECHO khi chẹn tim. Hơn nữa sau mổ tim tràn dịch màng tim thường ở phía sau, do đó tạo ra chèn ép tim khu trú sẽ thấy dấu đè sụp thất (T).
  • Dấu chẹn tim có thể không có dấu đè sụp thất (P) khi vách thất (P) đã dầy cứng hoăc có tăng áp động mạch phổi.
  • Thông tim: Dấu kinh điển trong thông tim là áp lực trong màng ngoài tim tăng, áp lực nhĩ (P) và thất (P) tăng và bằng nhau, đường dốc x nổi bật và mất đường dốc y và áp lực thất (P) cuối tâm trương tăng bằng nhĩ (P).

Chẩn đoán phân biệt

Suy tim phải cấp có thể nhầm với chèn ép tim, vì suy tim phải cấp có thể cho hình ảnh X quang với bóng tim to và phổi sáng. Hơn nữa có thể có áp lực tĩnh mạch trung tâm tăng và huyết áp giảm. Tuy nhiên, suy tim ứ huyết hiếm khi gây ra mạch nghịch thường.

Tràn dịch màng tim không gây chèn ép có thể đi kèm với suy tim ứ huyết. Trường hợp này cũng hiếm khi có mạch nghịch và khi nghe tim ghi nhận có âm thổi do bệnh tim hậu thấp hoặc do bệnh tim khác hơn là nghe tiếng tim xa xăm.

4. Các biện pháp điều trị bệnh viêm màng ngoài tim

Điều trị viêm màng ngoài tim thường phụ thuộc vào nguyên nhân cũng như mức độ nghiêm trọng. Các trường hợp viêm màng ngoài tim nhẹ có thể tự khỏi mà không cần điều trị.

4.1. Điều trị nội khoa

Điều trị bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩĐiều trị bằng thuốc theo chỉ định của bác sĩ

Các loại thuốc để giảm viêm và sưng liên quan đến viêm màng ngoài tim thường được kê đơn, bao gồm:

  • Thuốc giảm đau: các cơn đau liên quan đến viêm màng ngoài tim đáp ứng tốt với điều trị bằng thuốc giảm đau có sẵn mà không cần toa bác sĩ, chẳng hạn như aspirin hoặc ibuprofen (Advil, Motrin IB, những người khác). Những loại thuốc này cũng giúp giảm viêm. Thuốc giảm đau theo toa cũng có thể được sử dụng.
  • Colchicine (Colcrys, Mitigare): làm giảm viêm trong cơ thể, có thể được chỉ định cho viêm màng ngoài tim cấp tính hoặc như là một điều trị cho các triệu chứng tái phát.
    Colchicine có thể làm giảm thời gian của các triệu chứng viêm màng ngoài tim và giảm nguy cơ tình trạng này sẽ tái phát. Tuy nhiên, loại thuốc này không an toàn cho những người mắc một số vấn đề sức khỏe đã có từ trước, như bệnh gan hoặc thận và cho những người dùng một số loại thuốc. Bác sĩ sẽ kiểm tra cẩn thận tiền sử sức khỏe của bạn trước khi kê toa colchicine.
  • Corticosteroid: sử dụng nếu không đáp ứng với thuốc giảm đau hoặc colchicine hoặc nếu bạn có các triệu chứng viêm màng ngoài tim tái phát, bác sĩ có thể kê toa một loại thuốc steroid
  • Kháng sinh: Khi nhiễm trùng vi khuẩn là nguyên nhân cơ bản của viêm màng ngoài tim điều trị bằng kháng sinh và dẫn lưu nếu cần thiết.

Cần nhập viện nếu nghi ngờ chèn ép tim, biến chứng nguy hiểm của viêm màng ngoài tim do sự tích tụ dịch quanh tim. Khi chèn ép tim, có thể trải qua kỹ thuật gọi là chọc hút dịch màng ngoài tim.

4.2. Điều trị ngoại khoa

Phẫu thuật trong một số trường hợp nặng, viêm màng ngoài tim tái phát, bác sĩ có thể đề nghị phẫu thuật loại bỏ màng ngoài tim (pericardiectomy).

Áp dụng phương pháp phẫu thuật trong những trường hợp khóÁp dụng phương pháp phẫu thuật trong những trường hợp khó

  • Chọc hút dịch màng ngoài tim. Trong phần này, bác sĩ dùng kim tiêm vô trùng hay một ống nhỏ (ống thông) để loại bỏ nước và các chất lỏng dư thừa từ khoang màng ngoài tim. Được gây tê cục bộ trước khi trải qua chọc hút, thường được thực hiện với sự theo dõi siêu âm tim. Điều này có thể tiếp tục trong vài ngày trong quá trình nhập viện.
  • Cắt bỏ màng ngoài tim. Nếu được chẩn đoán viêm màng ngoài tim co thắt, có thể cần phải trải qua một thủ tục phẫu thuật (pericardiectomy) để loại bỏ toàn bộ màng ngoài tim đã trở nên cứng nhắc có ảnh hưởng đến các chức năng của tim.

Xem thêm: Tràn dịch màng ngoài tim: nguyên nhân, triệu chứng và điều trị

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close