Sống khoẻ

Viêm động mạch nút – tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm khó lường!

Viêm động mạch nút đặc trưng bởi tổn thương cục bộ hoặc từng đoạn của các mạch máu, đặc biệt là các động mạch nhỏ và trung bình, gây ra những biểu hiện lâm sàng khác nhau.

1. Viêm động mạch nút là gì?

Viêm động mạch nút còn gọi là viêm đa động mạch PAN (Polyarteritis nodosa) hay viêm nút động mạch là tình trạng viêm hoại tử các mạch máu nhỏ, điển hình là các động mạch có kích cỡ nhỏ và trung bình. Bệnh gây ra các triệu chứng tùy thuộc vào vị trí mạch máu bị tổn thương. Thương tổn có thể gặp ở hầu hết các cơ quan nhưng thường gặp nhất là ở da, gan, thận, tim, ống tiêu hóa, thần kinh (hệ thần kinh trung ương và ngoại biên), cơ bắp và tinh hoàn.

Viêm động mạch nút đặc trưng bởi tổn thương cục bộ hoặc từng đoạn của các mạch máuViêm động mạch nút đặc trưng bởi tổn thương cục bộ hoặc từng đoạn của các mạch máu

Viêm động mạch nút là bệnh hiếm gặp, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, tỷ lệ cao hơn ở người 50 – 60 tuổi, tỷ lệ mắc bệnh nam/nữ là 2,5/1.

2. Nguyên nhân gây viêm động mạch nút

Nguyên nhân của hầu hết các loại viêm mạch máu đều chưa rõ.  Tuy nhiên, các nghiên cứu đã chỉ ra một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh như:

  • Đột biến gen CECR1.
  • Nhiễm khuẩn là một yếu tố quan trọng trong bệnh sinh của một số loại. Trong bệnh viêm động mạch nút, 30 – 50% bệnh nhan có các bằng chứng của viêm gan B hoặc C. Hầu hết bệnh nhân mắc bệnh cryoglobulin huyết hỗn hợp bị nhiễm virus viêm gan C.

Viêm gan C là một trong những yếu tố tăng nguy cơ mắc viêm động mạch nútViêm gan C là một trong những yếu tố tăng nguy cơ mắc viêm động mạch nút

  • Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn và bệnh giang mai có thể phối hợp với viêm mạch máu và một số ít trường hợp sau nhiễm herpes zoster có thể có viêm mạch máu ở thần kinh trung ương.
  • Phản ứng thuốc, đặc biệt với penicillin, sulfonamid và allopurinol có thể gây ra bệnh lý huyết, thanh có kèm theo viêm mạch máu. Người ta vẫn chưa xác định được mối liên quan về mật bệnh lý trong những rối loạn này, tuy nhiên có thể thấy hiện tượng lắng đọng các phức hợp miễn dịch trong hệ thống máu.

Mặc dù viêm mạch máu xuất hiện trong nhiều bệnh khác nhau, song đây chỉ trình bày một số bệnh lý chủ yếu.

3. Triệu chứng của viêm động mạch nút

Viêm đa động mạch (PAN) có triệu chứng đa dạng, tổn thương ở nhiều cơ quan. Trong đó, các cơ quan thường chịu nhiều tổn thương là da, thần kinh ngoại biên, thận, khớp,…

3.1 Triệu chứng toàn thân

  • Sốt.
  • Người xanh xao, mệt mỏi.
  • Chán ăn, sụt cân.

Người xanh xao, mệt mỏiNgười xanh xao, mệt mỏi

3.2 Triệu chứng ở da

Các triệu chứng trên da khá phổ biến, gặp ở khoảng 40% bệnh nhân bị viêm nút động mạch. Những biểu hiện đặc trưng gồm:

  • Nổi cục, chủ yếu ở chi dưới, có tổn thương tương tự như hồng ban nút nhưng cục nhỏ hơn.
  • Loét: Thường xảy ra trên các cục, khi lành không để lại teo da.
  • Mạng lưới livedoid: Là những mảng xanh tím dạng lưới trên da, thường phân bố quanh thùy mỡ, có biểu hiện rõ hơn khi gặp lạnh, xuất huyết.
  • Nếu bị viêm nút động mạch cấp tính có thể xuất hiện các triệu chứng như mảng viêm lớn, phù nề.
  • Hội chứng Raynaud, thiếu máu đầu chi, đặc biệt ở ngón chân, gây hoại tử.

Triệu chứng thiếu máu đầu chiTriệu chứng thiếu máu đầu chi

  • Các tổn thương da thường gây đau, chủ yếu gặp ở chi dưới.

3.3 Triệu chứng trên các cơ quan khác

  • Đau khớp, đau cơ, nhất là các cơ cẳng chân.
  • Thần kinh trung ương: Nhồi máu, xuất huyết não. Có thể biểu hiện muộn (2-3 năm sau khi bị viêm mạch).
  • Thần kinh ngoại biên: Viêm dây thần kinh ngoại biên không đối xứng.
  • Tiêu hóa: Triệu chứng không điển hình gồm đau bụng, nôn, xuất huyết tiêu hóa, viêm gan, viêm túi mật, nhồi máu mạc treo, thủng ruột, viêm tụy,…
  • Thận: Suy giảm chức năng thận, tăng huyết áp.
  • Tổn thương tinh hoàn – buồng trứng: Viêm mào tinh hoàn 1 bên.
  • Tim mạch: Đau ngực, viêm màng ngoài tim, viêm cơ tim, loạn nhịp tim, nhồi máu cơ tim.

Cảm giác đau ngực do vấn đề tim mạchCảm giác đau ngực do vấn đề tim mạch

  • Biểu hiện khác: Nhìn mờ, biểu hiện nhồi máu/vỡ phình mạch ở các cơ quan khác.

4. Sự nguy hiểm của viêm động mạch nút

Bệnh có thể chỉ khu trú ở một cơ quan đơn độc hay diễn tiến cấp đến suy đa phủ tạng. Các biến chứng của viêm đa động mạch nút gồm suy thận, huyết khối ở các mạch máu liên quan, hoại tử mô và cơ quan, nhồi máu cơ tim, đột quỵ, viêm đơn dây thần kinh đa ổ, bệnh lý thần kinh ngoại biên, thủng tạng rỗng (ruột).

Viêm động mạch nút là bệnh nguy hiểm với nhiều biến chứng khó lườngViêm động mạch nút là bệnh nguy hiểm với nhiều biến chứng khó lường

Nếu không được điều trị, viêm động mạch nút có tiên lượng kém. Ước tính, tỷ lệ sống 5 năm của bệnh nhân chỉ khoảng 13%. Nếu được điều trị bằng steroid và thuốc gây độc tế bào, tỷ lệ sống của bệnh nhân trên 5 năm có thể lên tới 75 – 80%. Khả năng sống của bệnh nhân được cải thiện hơn với những trường hợp viêm đa nút động mạch có liên quan đến viêm gan B do việc đưa vào sử dụng các phác đồ điều trị kháng virus. Tiên lượng kém hơn ở những bệnh nhân viêm đa nút động mạch có tiểu đạm, suy thận, tổn thương ở ống tiêu hóa, tổn thương ở thần kinh trung ương hoặc mắc bệnh cơ tim.

Viêm động mạch nút là bệnh nguy hiểm với nhiều biến chứng khó lường và tiên lượng khá xấu. Vì vậy, ngay khi xuất hiện các triệu chứng cảnh báo, bệnh nhân nên đến bệnh viện để được thăm khám, chẩn đoán chính xác và có phương án điều trị bệnh kịp thời, hiệu quả.

5. Xét nghiệm và chẩn đoán

Các triệu chứng xét nghiệm gồm protein niệu, hồng cầu niệu và trụ hồng cầu. Hầu hết bệnh nhân có thiếu máu và tăng bạch cầu. Tăng bạch cầu ái toan cũng thường gặp ở các bệnh nhân co các biểu hiện ở phổi như thâm nhiễm phổi mau bay và co thắt phế quản; triệu chứng này có thể do một bệnh lý khác cùng xuất hiện (viêm mạch máu Churg – Strauss). Tốc độ lắng máu hầu như luôn luôn tăng. Yếu tố dạng thấp, kháng thể kháng nhân, phản ứng huyết thanh với giang mai dương tính và tăng nồng độ gamma globulin huyết thanh là những dấu kiệu không nhậy và cũng không đặc hiệu. Bố thể huyết thanh bình thường hoặc tăng. Phản ứng huyết thanh với viêm gan C hoặc B như HBsAg và HBeAg dương tính trong 30 – 50% trường hợp.

Vai trò của các kháng thể kháng bào tương của bạch cầu trung tính (ANCA) trong chẩn đoán viêm đa động mạch vẫn chưa được xác định chắc chắn. Dạng kháng thể bào tương (C-ANCA) được tổng hợp do những kháng thể kháng proteinase và được phát hiện chủ yếu ở những bệnh nhân bị bệnh u hạt Wegener. Dạng kháng thể quanh nhân (P-ANCA) gây ra do những kháng thể đậc biệt kháng myeloperoxiđase. P-ANCA có mặt trong 30% bệnh nhân viêm đa động mạch, tuy nhiên nó có thể xuất hiện trong một số bệnh khác như LHB, bệnh viêm ruột thừa và viêm, mạch máu giới hạn ở thận (viêm đa động mạch vi thể). Do độ nhậy và độ đặc hiệu của P-ANCA hạn chế, cho nên chẩn đoán viêm đa động mạch đòi hỏi những bằng chứng về tế bào học hoặc chụp mạch.

Sinh thiết đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán viêm động mạch nútSinh thiết đóng vai trò quan trọng trong việc chẩn đoán viêm động mạch nút

Sinh thiết những vị trí có triệu chứng (như cơ, thần kinh hoặc tinh hoàn) đạt độ nhậy 70% và độ đặc hiệu tới 95% với tỉ lệ biến chứng thấp. Nếu kết quả sinh thiết âm tính hoặc không tìm được vị trí nào có triệu chứng, nên tiến hành chụp mạch để tìm những tổn thương phình giãn động mạch điển hình của các động mạch ở thận, mạch treo hoặc ở gân. Chụp mạch máu nội tạng có độ nhậy và độ đặc hiệu tương đương với sinh thiết các vị trí có triệu chứng, nhưng có thể có biến chứng như tăng creatinin máu và hiếm hơn là có thể gây tử vong.

6. Điều trị viêm mút động mạch

6.1. Dùng thuốc

  • Corticosteroids: Liều cao prednisone hoặc solumedrol theo chỉ định của bác sĩ. Sau 1 tháng có thể giảm liều prednisone nếu tình trạng bệnh nhân và tốc độ lắng máu cải thiện. Giảm dần liều prednisone trong 12 tháng sau đó cho tới khi ngưng hẳn. Trường hợp cần phối hợp prednisone với cyclophosphamide, nếu có thể nên giảm liều corticoid nhanh hơn để giảm nguy cơ nhiễm trùng. Cần kiểm tra huyết đồ và chức năng thận của bệnh nhân thường xuyên khi dùng cyclophosphamide uống hoặc tiêm tĩnh mạch. Liều lượng thuốc cần được điều chỉnh phù hợp với từng trường hợp.

Lưu ý: Các độc tính tiềm tàng của cyclophosphamide có thể làm tăng nguy cơ ung thư bàng quang, bệnh máu ác tính, viêm bàng quang xuất huyết, xơ bàng quang, suy tuyến sinh dục, ức chế tủy xương. Cyclophosphamide thường không được khuyên dùng ở bệnh nhân viêm động mạch nút có liên quan đến viêm gan B vì việc phối hợp steroids với cyclophosphamide có thể làm tăng nhân bản virus.

Sử dụng thuốc để điều trịSử dụng thuốc để điều trị

  • Thuốc ức chế yếu tố gây hoại tử khối u: Là các kháng thể đơn dòng như adalimumab (Humira), certolizumab pegol (Cimzia), infliximab (Remicade) và golimumab (Simponi);
  • Điều trị bổ trợ: Những trường hợp dùng cyclophosphamide tiêm tĩnh mạch nên dùng đồng thời mercaptoethane sulfonate (MESNA);

Bệnh nhân nội trú cần điều trị ổn định tình trạng ban đầu và việc điều trị phụ thuộc vào độ lan tỏa của bệnh cũng như cơ quan bị tổn thương.

6.2. Điều trị ngoại khoa

Phương pháp phẫu thuật có thể được sử dụng để điều trị các biến chứng tiêu hóa của viêm đa động mạch nút, bao gồm thiếu máu ruột, viêm ruột thừa và viêm túi mật. Với các túi phình động mạch ở não, có thể chỉ định gây thuyên tắc bằng microcoil.

Phẫu thuật theo chỉ địnhPhẫu thuật theo chỉ định

Chăm sóc hậu phẫu cũng đóng vai trò quan trọng đối với những bệnh nhân viêm nút động mạch có kèm biến chứng nhồi máu ruột.

6.3. Chăm sóc lâu dài

  • Theo dõi huyết đồ, tổng phân tích nước tiểu, bilan chức năng thận và gan.
  • Theo dõi sát các biến chứng nhiễm trùng.
  • Sớm phát hiện các bệnh ung thư xuất hiện chậm, đặc biệt ở bệnh nhân điều trị cyclophosphamide.
  • Duy trì chế độ ăn ít muối nếu bệnh nhân bị tăng huyết áp.

Xem thêm: Đột quỵ não nguy hiểm như thế nào? Làm sao để phòng tránh?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close