Sống khoẻ

U mạch máu dưới da và các dạng thường gặp!

U mạch máu là một khối u máu dưới da lành tính phổ biến nhất ở trẻ em có thể tìm thấy ở tất cả các vùng của cơ thể. Tỉ lệ bệnh xuất hiện ở trẻ là 59% khi mới sinh, 40% trong tháng đầu, 30% ở trẻ đẻ non dưới 1,8kg cân nặng.

1. Bệnh u mạch máu là gì?

U mạch máu (tên khoa học là hemangioma- he-man-jee-O-muh) là một vết bớt màu đỏ tươi xuất hiện khi sinh hoặc trong tuần đầu tiên hoặc thứ hai của cuộc đời. Nó trông giống như một vết sưng cao su và được tạo thành từ các mạch máu thêm trên da.

U mạch máu là một vết bớt màu đỏ tươiU mạch máu là một vết bớt màu đỏ tươi

Một hemangioma có thể xảy ra bất cứ nơi nào trên cơ thể, nhưng phổ biến nhất xuất hiện trên mặt, da đầu, ngực hoặc lưng. Điều trị cho bệnh hemangioma của em bé (hemangioma ở trẻ sơ sinh) thường không cần thiết vì nó mất dần theo thời gian. Một đứa trẻ có tình trạng này trong giai đoạn trứng nước thường có rất ít dấu vết tăng trưởng ở tuổi thứ 10. Việc điều trị có thể được xem xét nếu khối u ác tính cản trở việc nhìn, thở hoặc các chức năng khác.

U máu xuất hiện thường xuyên hơn ở những em bé là nữ, da trắng và sinh non.

Các đặc trưng của bệnh u máu

Bệnh u máu được đặc trưng bởi sự tăng sinh tế bào nội mô và quá trình tự nhiên. Các giai đoạn của u máu có thể được chia thành:

  • Giai đoạn tăng sinh nhanh (0-1 năm): Thường diễn ra trong 3 tháng, nhưng có khi diễn ra trong 6 tháng với u máu nông, 8-10 tháng với u máu sâu. Trong giai đoạn này, 80% u máu tăng gấp đôi kích thước, trong đó khoảng 5% phát triển ồ ạt, có thể đe dọa tính mạng, ảnh hưởng chức năng và thẩm mỹ của trẻ;
  • Giai đoạn ổn định (1-5 năm): Sau giai đoạn tăng sinh, u máu dần dần ổn định cả kích thước và dấu hiệu lâm sàng, kéo dài đến tháng thứ 18-20;
  • Giai đoạn thoái triển (5-10 năm): Giai đoạn này thời gian đầu màu da nhạt dần sau đó u máu dưới da xẹp dần, nhưng chậm hơn. Sự thoái triển này xảy ra đến 70-80% các trường hợp sau 6 tuổi. Sự thoái triển của u máu dưới da thường chậm hơn u máu da.

U mạch máu được chia thành 3 giai đoạnU mạch máu được chia thành 3 giai đoạn

Có ba loại u máu, bao gồm:

  • U máu mao mạch (hay u máu phẳng).
  • U máu dạng hang.
  • U máu hỗn hợp.

Trong đó u máu phẳng xuất hiện như một vết son hay một mảng màu rượu vang trên da do sự tăng sinh bất thường của hệ thống mao mạch dưới da.

2. Phân loại u mạch máu

2.1. Theo tổ chức học

  • U máu mao mạch

Là thể hay gặp nhất, chiếm khoảng 60% các ca mắc u mạch máu. Ở bệnh nhân u máu mao mạch, các mao mạch tăng sinh và giãn da nhưng không có sự tăng sinh của các tế bào nội mô. U máu mao mạch chứa các mao mạch ở nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, có mao mạch rỗng, có mao mạch đầy, rộng và không đều như các mao mạch bình thường.

  • U máu hang

Dạng u máu này chiếm khoảng 30% các trường hợp mắc u máu. U máu hang có tổ chức giống như những cơ quan cương, gồm những hốc nhỏ, đầy máu, thông với nhau và thường có một vỏ xơ bọc, có thể đè ép lên các tổ chức cứng ở phía dưới. Đôi khi những hốc máu trong u máu hang được ngăn cách nhau bởi các vách collagen có nhiều mô võng và thiếu chất chun. Trong u máu hang, các mao mạch giãn rất rộng.

Thể u máu này có thể kết hợp với những tổn thương khác, nhất là với u bạch mạch, hình thành u máu – bạch mạch. Ngoài ra, nó cũng có thể kết hợp với những tổ chức khác như cơ, xương, sụn,… tạo thành u mạch máu trong cơ, u máu trong xương,…

U mạch máu có nhiều phân loại khác nhauU mạch máu có nhiều phân loại khác nhau

2.2. Theo lâm sàng

Về mặt lâm sàng, có các thể u máu sau:

  • U máu nông dưới da

Là loại u mạch máu ở phần sát dưới da, có hình thái là u chứa những mao mạch giãn rộng, tăng sinh, ứ máu đi kèm với tổ chức hang. U máu nông dưới da xuất hiện sau, tiến triển chậm, thường chỉ được phát hiện khi đã có kích thước khá lớn. Loại u máu này có thể đạt tới kích thước lớn như quả cam, xuất hiện đơn lẻ hoặc thành 3 – 4 u rải rác ở mặt, đặc biệt là ở vùng cổ. Da u máu nông có thể có màu bình thường hoặc tím nhạt, có tĩnh mạch nông chạy phía trên, u phình to ra khi làm việc nặng nhọc hoặc khi cúi xuống.

U máu nông dưới da sờ mềm, không đau, có thể bóp xẹp và lại phồng lên sau vài giây. Loại u máu này không gây rối loạn chức năng, chỉ gây vướng, khó khăn khi lao động và ảnh hưởng tới thẩm mỹ.

  • U máu sâu dưới da

Là loại u máu sâu ở phần mềm, sâu hơn lớp mỡ, có thể thâm nhiễm cơ và các cơ quan nằm sâu như tuyến nước bọt, thần kinh. Biểu hiện u máu sâu khá giống với u máu nông dưới da nhưng da thường bị thâm nhiễm nhiều hơn, có tĩnh mạch chạy ở trên khối u, da hơi nhăn, màu hồng hoặc tím. U ít khi gồ lên khỏi da, chủ yếu lan sâu. U máu sâu dưới da cũng phồng to hơn khi cúi đầu hoặc lao động nặng, bóp xẹp một phần.

Loại u mạch máu này tiến triển chậm, ảnh hưởng nhiều tới thẩm mỹ và gây rối loạn chức năng các cơ quan tùy vị trí phân bố. Cụ thể, u máu sâu dưới da có thể đè lên xương bên dưới, gây biến dạng, mài mòn, làm tiêu vôi, dẫn tới loãng xương,… Đặc biệt, u có thể xâm lấn vào xương và gây u máu trong xương.

  • U máu phẳng (port-wine stain hay vết rượu vang)

U mạch máu phẳng là một bệnh bẩm sinh với tổn thương dị dạng ở các mao mạch của da. Trong đó, các mao mạch bị giãn ra và không có sự tăng sinh của các tế bào nội mô. Biểu hiện của u máu phẳng là xuất hiện những vết sẫm màu trên da, có màu hồng nhạt, đỏ nhạt hoặc đỏ thẫm, không dày hơn bề mặt da, co giãn mềm mại (có tính chất giống như da thường, chỉ khác màu).

U máu phẳng có kích thước đa dạng, từ nhỏ như đồng xu tới lớn lan hết cả nửa mặt. Đây là dạng u máu bẩm sinh, có khuynh hướng phát triển, lan rộng theo tuổi và chỉ ảnh hưởng tới thẩm mỹ, không gây rối loạn chức năng các cơ quan. Tuy nhiên, u mạch máu phẳng cũng có thể tiến triển vào chiều sâu, thâm nhiễm các lớp da hoặc vào tổ chức mỡ, cơ, niêm mạc,… làm biến dạng mặt và phát triển lớn, ảnh hưởng tới chức năng của các cơ quan. Đồng thời, bề mặt vết bớt có thể gồ, sùi hơn, trở thành các cục nhỏ, da phủ ở trên nhăn nhúm và biến thành u máu gồ (u máu củ).

  • U máu gồ (u máu củ)

U máu gồ có thể do u máu phẳng tiến triển hoặc bẩm sinh. U gồ khỏi da từ vài mm đến 1cm hoặc hơn, có màu hồng đậm, đỏ tía, da phủ lên hơi nhăn, khi va chạm dễ chảy máu dẫn tới nhiễm khuẩn. Đôi khi u máu gồ hình thành một đám rộng ở mặt hoặc dọc cổ. Loại u máu này có thể phát triển và lan rộng theo tuổi hoặc tự ngừng phát triển, thu nhỏ và hết hẳn.

U máu gồ tiến triển từ u máu phẳng thường gặp ở người trung niên hoặc cao tuổi. U biểu lộ dưới hình thái trên một u máu phẳng từ trước, nổi gồ thành cục, có màu đỏ thẫm và nhăn nheo.

U máu gồ tiến triển tới một mức độ sẽ tự ngừng lại, không lan rộng thêm, chỉ tăng khối lượng tại chỗ, có thể che kín mắt, mũi, môi,… gây ảnh hưởng tới chức năng các cơ quan, tính thẩm mỹ cũng như tâm lý của bệnh nhân. Bên cạnh đó, u dễ bị nhiễm khuẩn và chảy máu, da dưới u có thể bị thâm nhiễm ít nhưng không lan tới lớp cơ ở dưới.

  • Phình mạch rối

Dạng u máu này thường hình thành từ u máu gồ tự phát hoặc dưới ảnh hưởng của sang chấn hay thay đổi nội tiết tố (do mang thai). Đôi khi, phình mạch rối là một thể trung gian giữa u máu và tình trạng phồng động – tĩnh mạch. Phình mạch rối gồm những mao mạch giãn rộng, không đồng đều, gồ to, có nhịp đập và không bóp xẹp được.

Hình thái lâm sàng của phình mạch rối là một u gồ, lớn như quả quýt, da trên khối u có màu hồng đậm, nhăn nheo, mỏng, đôi khi có tĩnh mạch nổi rõ, nhìn thấy rõ nhịp đập, dễ chảy máu và khó cầm máu. Phình mạch rối làm biến dạng mặt, có thể ảnh hưởng tới chức năng các cơ quan tùy vị trí chúng hình thành là ở gần mũi, môi hay tai. Ngoài ra, loại u máu này cũng có thể ảnh hưởng tới hoạt động của tim mạch.

  • U máu niêm mạc miệng

Có thể là u máu phẳng hoặc u gồ thể củ. U máu niêm mạc miệng thường gặp ở môi, má, lưỡi, sàn miệng, hàm ếch, vòm miệng mềm, có thể lan vào amidan tạo với lưỡi gà thành u gồ thể củ rất nguy hiểm. Niêm mạc phủ lên khối u có màu đỏ đậm hoặc tím đậm, gồ nhẹ hoặc nhiều, làm vướng, dễ gây chảy máu, ảnh hưởng tới chức năng ăn uống, giao tiếp. U máu niêm mạc miệng thường phát triển theo chiều rộng trong hốc miệng, có thể xâm nhiễm tổ chức dưới niêm mạc, cơ, tổ chức mỡ dưới da, lan sâu ra ngoài da.

  • U máu trong xương hàm

Là loại u máu nguy hiểm nhất, có thể dẫn đến tử vong. Thường u máu trong xương hàm là u niêm mạc miệng hoặc lợi xâm lấn, phá hủy dần xương hàm. Hiếm gặp hơn, u máu có thể phát triển từ trung tâm xương hàm, phá hủy dần lợi và răng,…

Một số thể u máu đặc biệt khác

  • U máu kết hợp: Trong các thể bệnh trên, có nhiều loại u máu có thể phát triển, kết hợp với nhau như u máu phẳng xen kẽ u máu gồ, u máu niêm mạc xen kẽ với u máu sâu dưới da,…
  • U máu rải rác Rendu và Osler: Có tính chất di truyền, đặc trưng bởi những u máu rải rác trên da và niêm mạc, màu sẫm, có chấm đen, xanh thẫm, chảy máu hoặc giãn mạch. Loại u máu này khu trú ở phổi có thể gây rò động – tĩnh mạch. Ở mặt nó hay khu trú ở má, cổ, niêm mạc miệng, môi, lưỡi, sàn miệng, hàm ếch, niêm mạc mũi,… dễ gây chảy máu;
  • Hội chứng Sturge-Weber-Krabbe: Còn gọi là u máu lan toả thần kinh, là một bệnh bẩm sinh. Biểu hiện là một u máu phẳng ở một bên mặt, kèm theo u máu ở não cùng bên. Bệnh nhân có thể bị rối loạn thị giác, võng mạc sẫm màu, tăng nhãn áp và động kinh, nhức đầu, liệt nửa người,…
  • Hội chứng Klippel-Trenaunay và Parkes Weber: Thuộc loại u máu não – mặt, có phì đại ở nửa mặt và sọ hoặc teo nửa mặt và sọ, người bệnh bị rối loạn vận động, rối loạn tâm thần, tăng nhãn áp,…

3. Nguyên nhân gây u mạch máu

Giả thuyết liên quan đến căn nguyên gây u máu bao gồm:

  • Từ phôi thai, do di tích của trung bì phôi thai.

Giả thuyết u mạch máu do di tích của trung bì phôi thaiGiả thuyết u mạch máu do di tích của trung bì phôi thai

  • Nhiễm virus gây u nhú trên người, tiếng Anh còn gọi là Human Papuloma virus (HPV) gây mất kiểm soát điều hòa tăng sinh tế bào nội mạch của mạch máu.
  • Do nội tiết tối: Người ta thấy nồng độ cao của 17-Beta Estradiol ở trẻ u máu.
  • Heparine do các dưỡng bào tiết ra gây kích thích tế bào sợi và tế bào nội mạch tăng ở các trẻ u máu.

4. Triệu chứng của bệnh u mạch máu

U máu có thể có mặt khi sinh, nhưng thường xuất hiện nhiều hơn trong vài tháng đầu đời. Biểu hiện bệnh u máu ở trẻ em bắt đầu như một dấu đỏ phẳng ở bất cứ đâu trên cơ thể, thường xuyên nhất là trên mặt, da đầu, ngực hoặc lưng. Thông thường một đứa trẻ chỉ có một dấu hiệu, một số trẻ có thể có nhiều hơn.

Trong năm đầu tiên của trẻ, vết đỏ phát triển nhanh chóng thành một vết sưng trông giống như cao su xốp dính ra khỏi da. U máu sau đó bước vào giai đoạn nghỉ ngơi và cuối cùng, nó bắt đầu dần biến mất.

Nhiều khối u máu biến mất khi 5 tuổi và hầu hết sẽ biến mất hoàn toàn khi trẻ tuổi 10. Da có thể bị đổi màu một chút hoặc nổi lên sau khi hemangioma biến mất.

5. Chẩn đoán u mạch máu như thế nào?

5.1. Chẩn đoán xác định

Chẩn đoán chủ yếu dựa vào sự tiến triển của 3 giai đoạn qua theo dõi, thăm khám lâm sàng. Điều quan trọng nhất là cần phải phân biệt thương tổn là u máu hay dị dạng mạch máu? U máu ở giai đoạn nào? Tăng sinh hay ổn định hay thoái triển? Một số phương pháp chẩn đoán xác định gồm:

  • Siêu âm có thể giúp chẩn đoán trong giai đoạn tăng sinh và các u máu lớn.
  • Chụp cộng hưởng từ hay chụp cắt lớp có thể giúp ích đối với các trường hợp u máu có biến chứng đe dọa đến tính mạng trẻ.
  • Chụp mạch nên được chỉ định khi cần nút mạch.
  • Sinh thiết: Thường không cần thiết vì hỏi tiền sử bệnh nhân và các dấu hiệu có trên lâm sàng sẽ biết u máu hay dị dạng mạch.

Có nhiều phương pháp chẩn đoán u mạch máuCó nhiều phương pháp chẩn đoán u mạch máu

5.2. Chẩn đoán phân biệt

  • U máu nông với giãn mao mạch hay giai đoạn đầu của u máu nông, dị dạng mao mạch: Cần phải theo dõi trong những tháng đầu sau sinh để phân biệt chẩn đoán.
  • U máu sâu với những u máu lành tính bẩm sinh: Loại u máu này đã đạt tới sự tăng sinh cực điểm của tế bào nội mạch ngay từ khi mới sinh. Loại u máu này chia lần 2 loại: u máu bẩm sinh thoái triển nhanh và u máu bẩm sinh không thoái triển. Các loại u máu này thường không cần can thiệp.
  • U máu sâu lành tính mắc phải với:
    • U nguyên bào mạch.
    • U mạch nội mô dạng Kaposi.
    • Dị dạng tĩnh mạch.
    • Dị dạng bạch mạch.
    • Dị dạng động – tĩnh mạch.
    • Loạn sản phôi mạch máu.

6. U mạch máu có nguy hiểm không? Điều trị như thế nào?

Tác động tiêu cực của bệnh u máu đến con người còn đang được nghiên cứu kỹ lưỡng. Mặc dù không đe dọa đến tính mạng, nhưng u máu cũng gây nên những vấn đề nhất định đối với sức khỏe.

Đôi khi, một hemangioma có thể bị phá vỡ và phát triển một vết loét. Điều này có thể dẫn đến đau, chảy máu, sẹo hoặc nhiễm trùng. Tùy thuộc vào vị trí của hemangioma, nó có thể cản trở tầm nhìn, hơi thở, thính giác hoặc nguy hiểm đến tính mạng – nhưng điều này rất hiếm khi xảy ra.

U máu có thể tăng sinh và phát triển không ngừng. Ở trẻ nhỏ, nếu tốc độ tăng sinh của khối u nhanh hơn so với sự phát triển của trẻ sơ sinh, thì các vấn đề về chức năng và thẩm mỹ như loét, tắc mũi, vấn đề về thị lực và tắc nghẽn đường thở rõ ràng sẽ xuất hiện.

Với người trưởng thành, một số vị trí đặc biệt như vùng mí mắt, hốc mắt, mang tai gây biến chứng chèn ép thần kinh thị giác, mặt bị biến dạng. Nguy hiểm hơn có thể gây chảy máu ồ ạt nếu có sang chấn vùng u.

Mặc dù u máu là lành tính, chúng cũng gây nên vấn đề mất thẩm mỹ rất nghiêm trọng, khiến người bệnh khó hòa đồng với xã hội, thậm chí là tự kỷ hay trầm cảm.

Điều trị u mạch máu

U mạch máu có xu hướng tự biến mất sau một thời gian, vì vậy bác sĩ thường không chỉ định điều trị bởi chính điều trị lại có thể gây ra một số tác dụng phụ lên da. Tuy nhiên nếu u mạch máu bắt đầu ảnh hưởng lên khả năng nhìn hoặc khả năng hoạt động bình thường của bạn thì có lẽ đã đến lúc cần điều trị:

  • Thuốc chẹn thụ thể beta (propranolol là thuốc đầu tay) ở dạng gel có thể thoa lên vùng da bệnh. Tuy nhiên, dạng thuốc này có thể làm tăng nguy cơ bị tăng huyết áp, tăng đường huyết và khò khè.
  • Corticosteroid là một điều trị thay thế cho thuốc chẹn thụ thể beta. Loại thuốc này có thể tiêm, uống hoặc bôi da.
  • Điều trị bằng laser có thể được sử dụng để loại bỏ u.

Xem thêm: Viêm mao mạch dị ứng là gì? Có nguy hiểm không?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close