Sống khoẻ

Tổng quan về bệnh lao cơ xương

Bệnh lao cơ xương là một trong những bệnh lý thường gặp nhất trong các vấn đề về xương khớp. Bệnh không chỉ gây ảnh hưởng đến sức khỏe mà còn nguy hại đến tính mạng người bệnh.

1. Bệnh lao cơ xương là gì?

Bệnh lao cơ xương (còn gọi là lao xương khớp) là một dạng của bệnh lao, là bệnh lý khá phổ biến hiện nay. Trong đó, lao là bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn mycobacterium tuberculosis tạo ra gây ảnh hưởng đến hệ hô hấp và hệ tiêu hóa, nhưng cũng có thể lây lan qua đường máu đến các bộ phận liên quan khác.

Bệnh lao cơ xương là loại lao ngoài phổi phổ biến thứ 3 sau bệnh lao màng phổi và bạch huyết. Bệnh xảy ra chủ yếu tại cột sống do đây là bộ phận phổ biến nhất bị ảnh hưởng, tiếp theo là hông và đầu gối.

Bệnh lao cơ xương do vi khuẩn mycobacterium tuberculosis gây raBệnh lao cơ xương do vi khuẩn mycobacterium tuberculosis gây ra

Tại cột sống, thông thường là thân đốt sống và đĩa đệm ở vùng thắt lưng sẽ bị ảnh hưởng. Các khu vực khác như đốt sống cổ, xương cùng và khớp cùng chậu có thể bị ảnh hưởng tùy thuộc vào tình trạng bệnh lao cơ xương. Xương sườn, xương chậu, bàn chân, xương dài, khớp ức đòn, xương ức và túi hoạt dịch… rất có thể bị nhiễm bệnh lao xương nếu không được điều trị kịp thời.

Bệnh lao cơ xương khá giống với bệnh viêm xương đều gây tổn thương ở người trẻ tuổi, nhưng khác là tổn thương của lao xương thường bắt đầu ở xương xốp sau đó lan ra xung quanh. Vị trí xương cứng thường thấy là lao đốt ngón bàn tay, bàn chân.

2. Nguyên nhân của bệnh lao xương

Mycobacterium tuberculosis là loại vi sinh vật gây bệnh lao cơ xương phổ biến nhất. Nhiễm trùng ở cơ quan cơ xương luôn có thể xuất phát từ ổ bệnh khác, thường là phổi hoặc các hạch bạch huyết trung thất.

Các vi sinh vật lây lan qua dòng máu và đọng lại ở xương (thường gần sụn đầu xương, màng hoạt dịch). Khi chúng sinh sôi nảy nở, chúng tạo thành ‘củ lao’ (hoại tử trung tâm được bao quanh bởi các tế bào biểu mô, tế bào khổng lồ và các tế bào đơn nhân).

Vi khuẩn đọng lại ở đầu xương tạo thành các "củ lao"Vi khuẩn đọng lại ở đầu xương tạo thành các “củ lao”

Có hai loại tổn thương vi phẫu của lao cơ xương được gọi là:

  • Loại hoại tử tiết dịch – hoại tử và hình thành áp xe lạnh.
  • Loại sinh sôi nhanh chóng – tăng sinh tế bào với hoại tử tối thiểu như các u lao hạt.

Các loại tổn thương hình thành phụ thuộc vào cách cơ thể đối phó với vi khuẩn hoặc khả năng miễn dịch.

3. Triệu chứng của bệnh lao cơ xương

Lao xương khớp rất khó chẩn đoán trong giai đoạn đầu và bệnh không gây ra đau đớn, không có bất cứ triệu chứng nào cho đến khi bệnh đã phát triển ở giai đoạn muộn.

3.1. Triệu chứng lâm sàng

Toàn thân: thể hiện nhiễm độc lao, cơ thể gây sút yếu, sốt về chiều, ra mồ hôi trộm, ngủ kém, ăn kém, dẫn tới mệt mỏi, sút cân. Bệnh khởi phát thầm lặng, cường độ tiến triển của bệnh phụ thuộc vào độc tính của trực khuẩn lao với sức đề kháng của người bệnh. Diễn biến của người bệnh tiến triển kéo dài, phần lớn trường hợp bị lao ở một khớp và bao giờ cũng liên quan đến chấn thương với tiền sử sống chung với người bị lao.

Tại chỗ: 

  • Đau: đau âm ỉ cả ngày, đau tăng dần về đêm, đau khi cử động khớp, đôi khi người bệnh nhầm là đau do thấp khớp chỉ khi chụp XQ mới phát hiện ra.
  • Hạn chế cử động khớp, khớp sưng nề, tăng nhiệt độ tại nơi trực khuẩn trú ngụ, co cứng khớp.

Khớp sưng nề là một trong những triệu chứng lâm sàng của người mắc lao cơ xươngKhớp sưng nề là một trong những triệu chứng lâm sàng của người mắc lao cơ xương

  • Hình thành túi mủ lạnh.
  • Hạch sưng ở quanh khớp hoặc gốc chi.
  • Teo cơ.
  • Triệu chứng Alexandre Drova dương tính, khi béo da không tách riêng da được mà béo lên cả tổ chức dưới da vì sưng nền xơ dính quánh
  • Hình thành bã đậu hay là hình thái viêm xuất tiết có tính phá hủy hình thành bọc mủ lạnh, ở khớp có khuynh hướng hình thành túi mủ, khi vỡ mủ ra bị rò ra ngoài tổ chức bã đậu lẫn những mảnh xương chết, rò lao kéo dài và thường có bội nhiễm. Bệnh khởi phát cấp tính gây nên sốt cao, cử động rất đau, khớp viêm mạch, hạch khu vực sưng to, đau.
  • Hình thái viêm thể hạt hay hình thái viêm tăng sinh màng hoạt dịch, bệnh khởi phát kín đáo, khớp đau nhẹ và thường có tràn dịch với từng đợt teo cơ mức độ vừa và hay gặp ở trẻ nhỏ.

3.2. Triệu chứng lâm sàng: Hóa nghiệm máu

Bạch cầu đa nhân tăng.

Hoá nghiệm máu bệnh nhân lao cơ xương có bạch cầu đa nhân tăngHoá nghiệm máu bệnh nhân lao cơ xương có bạch cầu đa nhân tăng

Tốc độ lắng máu: Tăng nhanh chỉ là kết quả có giá trị giúp cho tiên lượng bệnh. VS tăng nhanh biểu thị cơ thể có phản ứng tự vệ tốt và ngược lại.

Mantoux:

  • Nếu âm tính thì loại trừ lao.
  • Nếu dương tính thì không giá trị quyết định, chỉ chứng tỏ người bệnh đã có thời kì bị nhiễm khuẩn lao.

Gây nhiễm khuẩn lao cho chuột thử nghiệm: Dùng chuột không có miễn dịch tự nhiên với lao, lấy mủ lao tiêm qua phúc mạc. Sau 5-6 tuần lễ có kết quả thương tổn lao.

Làm sinh thiết:

Thấy hình ảnh thương tổn nang lao điển hình.

  • Tubecculin: Phản ứng với Tubecculin tùy thuộc vào phản ứng dị ứng và phản ứng viêm đối với kháng nguyên.
  • Cấy khuẩn: Thanh dịch viêm xuất tiết có thể là kết quả của phản ứng viêm không đặc hiệu, nên kết quả cấy có khi âm tính.

3.3. Triệu chứng cận X- quang

Giai đoạn khởi phát: 

  • Thưa xương là dấu hiệu đầu tiên, hiện tượng xung huyết mạch gây nên mất chất vôi, mất chất vôi nặng nề dễ nhầm với tiêu xương.
  • Hẹp khe khớp do co rút cơ, hoặc bị tiêu sụn đường viền khớp có hình đứt quãng bởi những ổ tổ chức hạt.
  • Ở trẻ em thì sụn tiếp hợp đầu xương bị “già” đi.

Giai đoạn toàn phát: 

  • Sụn khớp nham nhở.
  • Có ổ khuyết xương đầu xương gần khớp, hoặc vỡ vào khớp.
  • Biến dạng xương.

Ở giai đoạn toàn phát xương có thể bị biến dạngỞ giai đoạn toàn phát xương có thể bị biến dạng

  • Không có bồi đắp xương.

Giai đoạn ổn định: 

  • Để lại hình ảnh dính khớp.
  • Hết đau hoặc chỉ đau nhẹ.
  • Sức khỏe hồi phục dần.

4. Chẩn đoán và điều trị bệnh lao cơ xương

4.1. Các biện pháp chẩn đoán bệnh lao cơ xương

Do trực khuẩn lao có nhiều kháng nguyên chéo với các Mycobacterium khác, nên hiện nay người ta không chẩn đoán huyết thanh bệnh lao. Nhưng gần đây, kháng nguyên A60 của M.bovis đã được dùng trong kỹ thuật ELISA phát hiện kháng thể lo, Chẩn đoán vi sinh vật gây bệnh lao bằng cách nhuộm soi, nuôi cấy và PCR.

Kỹ thuật khuếch tán chuỗi gen (PCR)Kỹ thuật khuếch tán chuỗi gen (PCR)

Nhuộm trực tiếp bệnh phẩm: Ziehl-Neelsen là phương pháp nuôi cấy đặc hiệu. Nếu thấy một số trực khuẩn bắt màu đỏ và hơi mảnh, thường đứng nối đầu vào nhau là BK dương tính. Kết quả này chỉ nói có Mycobacterium trong bệnh phẩm nhưng chưa chắc có trực khuẩn lao. Thực tế, dựa vào số lượng trực khuẩn này trên tiêu bản, cùng với các dấu hiệu lâm sàng X- quang đã có thể khẳng định chẩn đoán.

Nuôi cấy: bệnh phẩm được xử lý và nuôi cấy trên môi trường Sauton hoặc Loeweinstein hay cả hai, cho kết quả chính xác hơn nhưng rất chậm, hiện nay người ta đang nghiên cứu để tạo ra môi trường mới mà trực khuẩn lao phát triển nhanh hơn.

Tiêm truyền chuột lang: đây là biện pháp mà hiện nay ít dùng vì độ nhạy thấp.

Kỹ thuật PCR còn gọi là kỹ thuật khuếch tán chuỗi gen. Kết quả chẩn đoán nhanh khoảng 48 giờ và chính xác, rất tốt cho chẩn đoán lao ngoài phổi.

4.2. Các biện pháp điều trị bệnh lao cơ xương

Mục tiêu của điều trị là:

  • Kiềm chế và loại bỏ nhiễm trùng.
  • Giảm đau.
  • Bảo tồn và khôi phục chức năng xương và khớp.
  • Bảo tồn và phục hồi chức năng thần kinh (trong trường hợp cột sống).

Điều trị cơ bản là phối hợp các thuốc kháng lao với:

  • Hóa trị.
  • Nghỉ ngơi.
  • Kéo giãn hoặc nẹp bất cứ khi nào cần thiết.
  • Các bài tập vận động hoặc hỗ trợ các khớp liên quan trong suốt thời gian chữa bệnh.

Thăm khám ngay khi có biểu hiện của bệnh để được điều trị kịp thờiThăm khám ngay khi có biểu hiện của bệnh để được điều trị kịp thời

Giai đoạn nghỉ ngơi ban đầu được giám sát chặt chẽ với vận động từ từ.

Điều trị ban đầu cần được giám sát, do đó bệnh nhân phải nhập viện. Sau đó, bạn có thể được kéo hoặc nẹp để chăm sóc phần xương bị ảnh hưởng và được hướng dẫn để tự chăm sóc tại nhà.

Do vậy giai đoạn đầu nhập viện cho phép điều trị giám sát. Điều trị có thể tiếp tục tại nhà. Có sẵn các công thức phối hợp các loại thuốc kháng lao khác nhau.

Can thiệp phẫu được yêu cầu khi bệnh nhân không đáp ứng với thuốc điều trị thử. Phẫu thuật nhằm loại bỏ các mô bị bệnh và giảm lượng vi khuẩn, giúp cho việc đáp ứng thuốc tăng lên.

Phẫu thuật cũng có thể được thực hiện nếu kết quả điều trị không đạt yêu cầu hoặc xuất hiện một biến dạng không thể chấp nhận được sau điều trị. Bạn cũng cần được phẫu thuật nếu bị mất khả năng vận động rất nghiêm trọng gây cản trở các hoạt động trong cuộc sống hàng ngày.

Nếu có cột sống không ổn định, bạn cũng cần được phẫu thuật.

Hầu hết các bệnh nhân được chữa khỏi với dòng thuốc kháng lao đầu tiên nhưng một số ít có thể phát triển đa kháng thuốc và yêu cầu dòng thuốc thứ hai. Bác sĩ sẽ lựa chọn loại thuốc kháng lao phù hợp cho bạn. Bổ sung dinh dưỡng cũng rất cần thiết trong quá trình điều trị lao.

Xem thêm: Bệnh lao xương có nguy hiểm không? Có lây truyền không?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close