Sống khoẻ

Tìm hiểu về hạ huyết áp tư thế đứng

Hạ huyết áp tư thế đứng gây nên nhiều tổn thương cho các bộ phận và cơ quan khác để lại nhiều biến chứng với nguy cơ rủi ro cao thậm chí là tử vong.

1. Thế nào là hạ huyết áp tư thế đứng?

Theo Hiệp Hội Thần Kinh Tự Chủ Hoa Kỳ và viện Thần Kinh Hoa Kỳ, hạ huyết áp tư thế đứng là tình trạng huyết áp tâm thu giảm ít nhất 20mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương giảm ít nhất 10mmHg khi ở tư thế đứng trong vòng 3 phút.

Điều này được diễn ra theo nguyên tắc “nước chảy chỗ trũng”. Có nghĩa là khi ở tư thế đứng, do ảnh hưởng của trọng lực, máu trong cơ thể sẽ bị dồn về phía các tĩnh mạch vùng thấp của cơ thể (ví dụ tĩnh mạch chi dưới) và được giữ lại ở đó. Lúc này, sự hồi lưu tĩnh mạch bị giảm kéo theo giảm cung lượng tim làm cho huyết áp bị hạ xuống, đồng thời lượng máu và oxy cung cấp cho não cũng bị giảm. Do đó bệnh nhân có thể bị rối loạn nhận thức thậm chí là ngất xỉu.

Hạ huyết áp tư thế khiến người bệnh có cảm giác chóng mặtHạ huyết áp tư thế khiến người bệnh có cảm giác chóng mặt

Hạ huyết áp tư thế đứng hay còn gọi là hạ huyết áp tư thế là một dạng của huyết áp thấp xảy ra khi đứng lên từ ngồi hoặc nằm. Hạ huyết áp tư thế đứng có thể làm bạn cảm thấy chóng mặt hoặc choáng váng và thậm chí có thể bị ngất.

Việc phát hiện hạ huyết áp tư thế đứng được dựa vào chỉ số đo huyết áp và nhịp tim ở tư thế nằm ngửa (ít nhất là 5 phút) và sau đó đo ở tư thế đứng trong 2 mốc thời gian: Đứng được 1 phút và đứng được 3 phút. Trường hợp có nghi ngờ hạ huyết áp tư thế nhưng kiểm tra huyết áp tư thế đứng không xác nhận được chẩn đoán có thể kết hợp nghiệm pháp bàn nghiêng.

2. Nguyên nhân hạ huyết áp tư thế đứng?

Hạ huyết áp tư thế xảy ra khi các cơ chế cân bằng nội môi của cơ thể bị rối loạn:

  • Rối loạn đường truyền và cung phản xạ của thần kinh tự chủ.
  • Giảm thể tích tuần hoàn máu.
  • Giảm sức co bóp của tim và đáp ứng của mạch máu với các hoạt động trong cơ thể.
  • Rối loạn đáp ứng của các hormon nội tiết.

Tất cả các bệnh lý ảnh hưởng đến các yếu tố trên đều có thể gây tình trạng hạ huyết áp tư thế đứng như:

Bệnh lý về tim mạch

Nguyên nhân do các vấn đề về tim mạchNguyên nhân do các vấn đề về tim mạch

  • Giảm thể tích tuần hoàn máu gặp trong các bệnh lý như suy thượng thận, xuất huyết hay các bệnh lý có gây mất nước.
  • Giảm trương lực co thắt của mạch máu trong các trường hợp bị giảm Kali máu hoặc do nằm quá lâu.
  • Giảm cung lượng tim do suy tim, nhồi máu cơ tim hay rối loạn nhịp tim…
  • Hạ huyết áp tư thế cũng có thể xảy ra trong các trường hợp cường aldosterone hay suy tĩnh mạch ngoại biên.

Bệnh lý về thần kinh:

  • Các bệnh lý liên quan đến thần kinh trung ương như parkinson, tai biến mạch máu não.
  • Các bệnh lý liên quan đến thần kinh ngoại biên hay gặp nhất là rối loạn thần kinh tự chủ, cũng có thể gặp trong biến chứng thần kinh của bệnh đái tháo đường
  • Ngoài ra, các khối u và các bệnh lý thuộc về tủy sống cũng có thể gây nên tình trạng hạ huyết áp tư thế.

Tai biến mạch máu não cũng là nguyên nhân gây hạ huyết áp tư thếTai biến mạch máu não cũng là nguyên nhân gây hạ huyết áp tư thế

Do dùng thuốc:

  • Một số dòng thuốc giãn mạch hạ áp có thể gây hạ huyết áp tư thế như thuốc hạ áp chẹn kênh canxi, nhóm thuốc nitrat.
  • Thuốc hoạt hóa thần kinh tự chủ như thuốc chẹn alpha hay thuốc chống trầm cảm ba vòng…

Ngoài những nguyên nhân trên, các yếu tố như rượu, nằm lâu hay mang thai cũng có thể gây nên tình trạng hạ huyết áp tư thế.

3. Triệu chứng thường gặp

Các triệu chứng phổ biến của hạ huyết áp tư thế là:

  • Cảm thấy đầu óc quay cuồng hoặc chóng mặt sau khi đứng lên.
  • Nhìn mờ.
  • Yếu.
  • Ngất xỉu.
  • Lẫn lộn.
  • Buồn nôn.

Cảm giác đầu óc quay cuồng, buồn nônCảm giác đầu óc quay cuồng, buồn nôn

Triệu chứng thường gặp nhất là chóng mặt hoặc choáng váng khi bạn đứng dậy từ tư thế ngồi hoặc nằm. Các triệu chứng thường kéo dài một vài phút.

Khi nào bạn cần gặp bác sĩ?

Thỉnh thoảng chóng mặt hoặc cảm giác quay cuồng có thể rất nhẹ – gây ra bởi mất nước nhẹ, đường máu thấp hoặc quá nóng. Chóng mặt hoặc đầu lâng lâng cũng có thể xảy ra khi bạn đứng dậy sau khi ngồi quá lâu. Nếu các triệu chứng thỉnh thoảng mới có bạn không cần lo lắng.

Bạn phải hẹn gặp bác sĩ nếu các  triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng xảy ra thường xuyên, vì chúng có thể báo hiệu các vấn đề nghiêm trọng. Thậm chí bạn phải gặp bác sĩ ngay nếu bị mất ý thức, thậm chí chỉ một vài giây.

Theo dõi và ghi lại các triệu chứng của bạn, khi nào chúng xảy ra, trong thời gian bao lâu và bạn đang làm gì vào lúc đó. Nếu các triệu chứng xảy ra vào những thời điểm nguy hiểm như trong khi lái xe, hãy thảo luận điều này với bác sĩ.

4. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc hạ huyết áp tư thế đứng?

Có rất nhiều yếu tố nguy cơ gây hạ huyết áp tư thế như:

  • Hạ huyết áp tư thế đứng thường xảy ra ở người già. “Xơ cứng động mạch” hoặc xơ vữa động mạch phát triển khi tuổi cao gây khó khăn cho các mạch máu thích ứng với sự thay đổi đột ngột khi cần thiết. Nhiều bệnh có liên quan đến hạ huyết áp tư thế đứng tiến triển xấu đi và làm các triệu chứng nặng lên theo tuổi tác.
  • Mang thai có liên quan đến hạ huyết áp tư thế đứng. Khi thai lớn dần, lưu lượng của hệ thống tuần hoàn mở rộng và huyết áp có xu hướng giảm. Điều này có thể dẫn đến chóng mặt khi đứng lên đột ngột. Huyết áp sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.
  • Tiết mồ hôi quá nhiều do gắng sức và tiếp xúc với nhiệt là những yếu tố nguy cơ và nguyên nhân tiềm ẩn của mất nước và các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng. Bệnh nhân có yếu tố nguy cơ khác gây hạ huyết áp tư thế đứng có nguy cơ gia tăng cho dù họ bị mất nước nhẹ.

Người thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ hạ huyết áp tư thếNgười thường xuyên uống rượu bia có nguy cơ hạ huyết áp tư thế

  • Uống rượu thường xuyên và lạm dụng ma túy cũng là những yếu tố nguy cơ gây ra các triệu chứng hạ huyết áp tư thế đứng.

5. Biến chứng và chế độ sinh hoạt phù hợp

5.1. Biến chứng

Biến chứng của hạ huyết áp tư thế đến rất nhanh và nguy hiểm, có thể té ngã gây chấn thương các vùng trên cơ thể do ngất xỉu đột ngột. Nếu huyết áp hạ xuống quá thấp và kéo dài có thể gây đột quỵ, rối loạn thần kinh và mất nhận thức.

5.2. Những thói quen sinh hoạt nào giúp bạn hạn chế diễn tiến của hạ huyết áp tư thế đứng?

Lối sống và các biện pháp khắc phục tại nhà sau có thể giúp bạn đối phó với hạ huyết áp tư thế đứng:

  • Tăng muối trong chế độ ăn của bạn. Điều này phải được thực hiện một cách cẩn thận và chỉ sau khi thảo luận với bác sĩ. Quá nhiều muối có thể làm huyết áp tăng quá mức cho phép gây hại cho sức khỏe của bạn.
  • Ăn nhiều bữa nhỏ. Nếu huyết áp của bạn giảm sau khi ăn, bác sĩ có thể khuyên chia nhỏ bữa ăn, giảm tinh bột.
  • Hỏi bác sĩ về bổ sung vitamin. Thiếu máu và thiếu vitamin B-12 đều ảnh hưởng đến lưu thông máu và làm trầm trọng thêm các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng. Vì vậy nếu bạn đang bị thiếu sắt và vitamin, việc bổ sung là cần thiết.
  • Uống nhiều nước. Uống nước nhiều giúp ngăn ngừa các triệu chứng của huyết áp thấp. Uống nhiều nước trước khi phải đứng trong thời gian dài, hoặc bất kỳ các hoạt động mà có xu hướng kích hoạt các triệu chứng của bạn.

Uống nhiều nước giúp ngăn ngừa các triệu chứng của huyết áp thấpUống nhiều nước giúp ngăn ngừa các triệu chứng của huyết áp thấp

  • Tránh uống rượu. Rượu có thể làm trầm trọng thêm hạ huyết áp tư thế đứng, vì vậy hạn chế hoặc tránh nó hoàn toàn.
  • Tập thể dục. Thường xuyên tập các bài tập tim mạch và tăng cường thể lực  giúp giảm các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng. Tránh tập thể dục trong thời tiết nóng và ẩm ướt. Căng giãn cơ bắp chân của bạn trước khi ngồi dậy. Nếu triệu chứng xảy ra, bóp đùi, bụng và cơ mông. Ngồi xổm, đi tại chỗ hoặc đứng trên đầu ngón chân của bạn.
  • Tránh uốn cong lưng. Nếu bạn cần nhặt một vật trên sàn nhà hãy ngồi xổm, hạ gối thấp để lấy nó.
  • Mang vớ nén cao ngang thắt lưng. Vớ nén giúp cải thiện lưu thông máu và làm giảm các triệu chứng của hạ huyết áp tư thế đứng. Mang chúng vào ban ngày và tháo ra bất cứ lúc nào bạn nằm xuống.
  • Hãy đứng dậy từ từ. Bạn có thể giảm chóng mặt và choáng váng gây ra do hạ huyết áp tư thế đứng bằng cách thay đổi chậm khi di chuyển từ nằm sang đứng. Ngoài ra, khi ra khỏi giường, ngồi trên mép giường của bạn trong một phút trước khi đứng lên.
  • Gối đầu cao. Ngủ với đầu giường của bạn hơi cao có thể giúp chống lại những ảnh hưởng của lực hấp dẫn.
  • Di chuyển chân của bạn trong khi đứng. Nếu bạn bắt đầu có các triệu chứng trong khi đứng, bắt chéo chân của bạn và co bóp cơ đùi, hoặc đặt một chân lên gờ tường hoặc ghế và tựa về phía trước càng nhiều càng tốt. Những thao tác này giúp hỗ trợ máu chảy từ chân của bạn về tim.

6. Các phương pháp chẩn đoán

Mục tiêu của bác sĩ trong việc đánh giá hạ huyết áp tư thế đứng là tìm ra nguyên nhân tiềm ẩn và xác định cách điều trị thích hợp với bất kỳ vấn đề sức khỏe nào có thể gây hạ huyết áp. Đôi khi, bác sĩ không tìm ra nguyên nhân.

Bác sĩ có thể xem lại lịch sử bệnh án, các triệu chứng và tiến hành kiểm tra sức khỏe để chẩn đoán tình trạng của bạn.

Bác sĩ cũng có thể đề nghị một hoặc nhiều điều sau đây:

  • Theo dõi huyết áp. Bác sĩ sẽ đo và so sánh số đo huyết áp của bạn ở tư thế ngồi và đứng. Bác sĩ sẽ chẩn đoán bạn bị hạ huyết áp tư thế đứng nếu huyết áp tâm thu giảm 20mm thuỷ ngân (mm Hg) hoặc huyết áp tâm trương giảm 10 mm Hg trong vòng 2-5 phút đứng hoặc kèm theo các triệu chứng khi đứng lên.

Thường xuyên theo dõi huyết ápThường xuyên theo dõi huyết áp

  • Xét nghiệm máu. Xét nghiệm máu giúp cung cấp các thông tin về sức khỏe tổng quát của bạn, có thể tìm ra đường máu thấp (hạ đường huyết) hoặc số lượng hồng cầu thấp (thiếu máu). Cả hai vấn đề này đều có thể gây ra huyết áp thấp.
  • Điện tâm đồ (ECG hoặc EKG). Xét nghiệm không xâm lấn này phát hiện các bất thường trong nhịp tim hoặc cấu trúc tim, tìm ra các vấn đề liên quan đến  việc cung cấp máu và oxy cho cơ tim của bạn.
  • Trong xét nghiệm không xâm lấn và không gây đau này, các miếng dán mềm, dính (các điện cực) được gắn vào da phần ngực, cánh tay và chân. Các miếng này sẽ thu nhận tín hiệu điện của tim truyền vào một máy ghi đồ thị hoặc hiển thị chúng trên một màn hình. Đôi khi, những bất thường về nhịp tim đến rồi đi và làm điện tâm đồ không tìm thấy bất kỳ vấn đề nào. Nếu điều này xảy ra, bạn có thể được yêu cầu đeo màn hình Holter 24 giờ để ghi lại điện tim đo các hoạt động hàng ngày của bạn.
  • Siêu âm tim. Trong xét nghiệm không xâm lấn này, sóng âm thanh được sử dụng để tạo ra một hình ảnh động của tim bạn. Sóng âm được hướng vào trái tim của bạn qua một thiết bị giống như cái gậy (bộ chuyển đổi) được đặt trên ngực của bạn. Các sóng âm thanh dội từ tim  được phản hồi ở thành ngực và qua xử lý điện tử cung cấp các hình ảnh động của tim giúp phát hiện các bệnh tiềm ẩn về cấu trúc tim của bạn.
  • Kiểm tra gắng sức. Nghiệm pháp gắng sức được thực hiện trong khi bạn đang tập thể dục như đi bộ. Bạn có thể được uống loại thuốc làm tim hoạt động mạnh hơn nếu không tập thể dục được. Sử dụng các xét nghiệm như điện tâm đồ hoặc siêu âm tim để theo dõi hoạt động của tim khi nó làm việc nhiều.
  • Kiểm tra với bàn nghiêng. Một thử nghiệm bàn nghiêng dùng để đánh giá phản ứng của cơ thể bạn với sự thay đổ vị trí. Bạn sẽ nằm trên bàn phẳng, bàn này sẽ được xoay nghiêng để nâng phần trên của cơ thể, mô phỏng sự dịch chuyển từ tư thế nằm qua đứng. Huyết áp của bạn được đo thường xuyên khi bàn nghiêng.
  • Tăng áp suất lồng ngực. Thử nghiệm không xâm lấn này sẽ kiểm tra các chức năng của hệ thần kinh tự chủ của bạn bằng cách phân tích nhịp tim và huyết áp sau các chu kỳ thở sâu: Bạn hít vào thật sâu và đẩy không khí ra ngoài qua miệng như bạn đang cố gắng thổi bóng.

7. Điều trị hạ huyết áp tư thế đứng

Điều trị hạ huyết áp tư thế tùy thuộc vào nguyên nhân gây ra. Có thể điều trị bằng cách dùng thuốc hoặc không dùng thuốc.

Các biện pháp không dùng thuốc:

  • Thay đổi tư thế từ từ.
  • Tránh nằm lâu.
  • Giảm hoặc ngừng hoặc chuyển đổi các thuốc hạ huyết áp.
  • Có thể tăng lượng muối trong khẩu phần ăn.
  • Đeo tất áp lực nếu bị suy tĩnh mạch ngoại biên.

Các thuốc điều trị:

Sử dụng thuốc trong điều trịSử dụng thuốc trong điều trị

  • Fludrocortison: là một loại corticoid có tác dụng giữ muối, giữ nước, tăng thể tích tuần hoàn. Nó có thể làm tăng huyết áp tuy nhiên cũng có thể gây phù hoặc suy tim sung huyết.
  • Midodrine: thuộc nhóm đồng vận thụ thể alpha giao cảm, làm co mạch dẫn tới làm tăng huyết áp. Không dùng thuốc trong trường hợp suy tim nặng, suy thận cấp, nhiễm độc giáp, u tủy thượng thận.
  • Dihydroxyphenylserine (DOPS): tiền chất của noradrenalin, tác dụng phụ ít, là thuốc có triển vọng trong điều trị hạ huyết áp tư thế.
  • Octreotide: đồng phân của somatostatin, có tác dụng ức chế một số peptid tiêu hóa có tác dụng giãn mạch. Có thể gây buồn nôn, đau bụng.
  • Các thuốc khác cần còn cần được nghiên cứu vì chưa có nhiều bằng chứng: Yohimbin, indomethacin, desmopressin, erythropoietin,…

Xem thêm: Dị dạng mạch máu não và những điều cần biết!

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close