Sống khoẻ

Tại sao lại bị hở van động mạch chủ?

Bình thường van động mạch chủ gồm 3 lá van thanh mảnh đóng mở nhịp nhàng theo hoạt động của tim cho phép dòng máu chạy theo một chiều từ tâm thất trái ra động mạch chủ.

1. Định nghĩa hở van động mạch chủ

Cấu tạo của tim gồm có hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Nhĩ phải được ngăn cách với thất phải bởi van ba lá, nhĩ trái ngăn cách với thất trái bởi van hai lá. Trong một chu chuyển tim, máu từ tâm nhĩ xuống tâm thất rồi được tống ra động mạch chủ qua van động mạch chủ và động mạch phổi qua van động mạch phổi. Bệnh lí van tim về lâu dài sẽ gây thay đổi huyết động và dẫn tới suy tim.

Bình thường sau khi dòng máu được bơm ra động mạch chủ, van động mạch chủ sẽ đóng lại để ngăn không cho máu chảy ngược về buồng tim.

Hở van động mạch chủ là tình trạng van đóng không kín làm máu dội ngược về thất trái, hậu quả làm giảm cung lượng tim và quá tải thể tích thất trái.

Hở van động mạch chủ được chia làm 2 loại: cấp tính và mạn tínhHở van động mạch chủ được chia làm 2 loại: cấp tính và mạn tính

Hở van động mạch chủ  có thể chia thành 2 loại: cấp tính và mạn tính. Hở van động mạch chủ mạn thường do van đóng không kín vì bờ của lá van bị dầy lên và cuộn lại, do giãn vòng van-gốc động mạch chủ hoặc cả hai. hở van động mạch chủ cấp thường do chấn thương ngực, viêm nội tâm mạc, tách thành động mạch chủ gây thủng, sa lá van hoặc giãn cấp tính vòng van và gần như luôn phải mổ cấp cứu.

2. Nguyên nhân bệnh hở van động mạch chủ

Nguyên nhân hở van động mạch chủ khác nhau tùy từng loại.

Hở van động mạch chủ cấp tính

  • Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
  • Lóc tách động mạch chủ.
  • Chấn thương làm tổn thương các lá van: sau chấn thương gia tốc hoặc chấn thương ngực.
  • Sau can thiệp thủ thuật: biến chứng của thay van động mạch chủ qua da (TAVI).

Có nhiều nguyên nhân gây hở van động mạch chủCó nhiều nguyên nhân gây hở van động mạch chủ

Hở van động mạch chủ mạn tính

  • Ở các nước đang phát triển, nguyên nhân phổ biến nhất của hở van động mạch chủ là tổn thương van hậu thấp (thấp tim).
  • Ở các nước phát triển, các nguyên nhân thường gặp là: giãn gốc động mạch chủ, bệnh van động mạch chủ hai lá van, vôi hóa van.
  • Ngoài ra có thể gặp hở chủ ở bệnh nhân có bệnh lí di truyền như: hội chứng Marfan, hội chứng Ehler-Danlos,…

3. Triệu chứng của hở van động mạch chủ

3.1. Triệu chứng cơ năng

Nếu hở van động mạch chủ cấp do viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, mức độ hở ban đầu có thể không lớn, song có thể tiến triển rất nhanh chóng về mức độ hở van động mạch chủ và suy tim, cần theo dõi sát.

Hở van động mạch chủ mạn tính thường không biểu hiện gì trong nhiều năm. Triệu chứng cơ năng khi xuất hiện thường liên quan đến ứ huyết phổi như khó thở khi gắng sức, sau đó dần dần xuất hiện khó thở khi nằm, cơn khó thở kịch phát về đêm, cuối cùng là các dấu hiệu của suy tim toàn bộ.

Đau thắt ngực xuất hiện ở những bệnh nhân hở van động mạch chủ nặng (do giảm tưới máu mạch vành trong thời kỳ tâm trương và giảm chênh áp qua lưới mạch vành khi đã tăng áp lực cuối tâm trương thất trái vì suy tim).

3.2. Triệu chứng thực thể

Hở van động mạch chủ cấp, mức độ nặng thường có bệnh cảnh cấp tính. Cần nghĩ tới tách thành động mạch chủ ở bệnh nhân hở van động mạch chủ cấp có kèm đau ngực. Cũng cần xác định bệnh sử và các yếu tố nguy cơ của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn. Triệu chứng suy tim ứ huyết (phù phổi…) báo hiệu tiên lượng xấu trong bệnh hở van động mạch chủ cấp.

Triệu chứng suy tim ứ huyếtTriệu chứng suy tim ứ huyết

Hở van động mạch chủ mạn tính thường không biểu hiện triệu chứng gì trong một thời gian dài ngoài một tiếng thổi tâm trương ở bờ trái xương ức. Cần tìm biểu hiện hở van động mạch chủ ở những bệnh nhân có hội chứng Marfan hoặc phình giãn động mạch chủ lên.

Các triệu chứng bên ngoài có thể gặp trong hở van động mạch chủ mạn tính là:

Kiểu hình Marfan: thường ở người trẻ, có dị tật nhiều cơ quan như nốt ruồi son, bàn chân – tay và các ngón dài như chân tay nhện, ngực hình phễu…

Có thể kèm triệu chứng của viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Nhìn thấy vùng đập rộng trước tim hoặc mỏm tim lệch trái do thất trái giãn.

chênh lệch về số đo huyết áp lớnChênh lệch về số đo huyết áp lớn

Số đo huyết áp vẫn bình thường nếu hở van động mạch chủ nhẹ. Khi hở van động mạch chủ nặng, buồng thất trái giãn, con số huyết áp tâm thu tăng cao, huyết áp tâm trương giảm nhiều, tạo ra chênh lệch về số đo huyết áp lớn. Tình trạng tăng động tuần hoàn này có thể gây ra một loạt các dấu hiệu như:

  • Dấu hiệu Musset: đầu gật gù theo nhịp đập của tim.
  • Dấu hiệu Mỹller: lưỡi gà đập theo nhịp tim.
  • Dấu hiệu Hill: huyết áp ở chân lớn hơn ở cánh tay > 60 mmHg.
  • Mạch Corrigan: mạch đập nẩy nhanh mạnh, chìm sâu.
  • Mạch Quincke: hiện tượng “nhấp nháy” của lưới mao mạch ở móng tay, môi.
  • Dấu hiệu Duroziez: tiếng thổi đôi ở động mạch đùi khi ép ống nghe vào.
  • Dấu hiệu Trobe: tiếng tâm thu và tâm trương nổi bật ở động mạch đùi.

Khi suy tim tiến triển, co mạch ngoại vi sẽ làm tăng con số huyết áp tối thiểu, huyết áp tối đa giảm do rối loạn chức năng thất trái. Trường hợp tách thành động mạch chủ kèm tràn dịch màng tim, có thể gặp hiện tượng mạch nghịch thường.

Mỏm tim thường đập mạnh, tăng động, lệch trái, khoang liên sườn V ngoài đường giữa đòn, do thất trái giãn. Thường có rung miu tâm trương ở khoang liên sườn II trái, đôi khi có cả rung miu tâm thu (do tăng lưu lượng qua van động mạch chủ). Độ nảy và thời gian khi bắt mạch quay, mạch đùi có thể xác định được mức độ hở van động mạch chủ.

Kinh điển là mạch Corrigan (nẩy nhanh, mạnh, chìm xuống nhanh). Có thể gặp mạch hai đỉnh nẩy trong trường hợp hẹp phối hợp hở van động mạch chủ. Nhịp tim vẫn nằm trong giới hạn bình thường cho tới giai đoạn muộn của bệnh, nhịp tim thường tăng lên để bù trừ cho thể tích tống máu khi đã giảm quá mức.

Nghe tim:

Những triệu chứng về tiếng timNhững triệu chứng về tiếng tim

  • Tiếng tim có thể dùng để xác định mức độ hở van động mạch chủ:
  • Tiếng T1 mờ khi hở van động mạch chủ nặng và rối loạn chức năng thất trái do hiện tượng đóng sớm van hai lá cũng như giảm lực gây đóng van.
  • Thành phần chủ của tiếng T2 thường mờ do các lá van động mạch chủ đóng không kín, thành phần phổi của T2 cũng hay bị tiếng thổi tâm trương lấn áp. T2 tách đôi sát nhau hoặc tách đôi nghịch thường (trên tâm thanh cơ động đồ, thành phần chủ đi sau thành phần phổi) do thời gian tống máu thất trái bị kéo dài vì thể tích tống máu tăng.
  • Tiếng T3 nghe được khi giảm nặng chức năng tâm thu thất trái. T4 hay có, do nhĩ trái phải bóp máu xuống buồng thất trái đã giảm độ giãn.
  • Thổi tâm trương kiểu phụt ngược, bắt đầu ngay sau tiếng T2, cường độ giảm dần, nghe rõ nhất ở bờ trái xương ức khi bệnh nhân ngồi nghiêng người về phía trước và thở ra hết sức. Mức độ hở van động mạch chủ liên quan chặt với độ dài hơn là cường độ của tiếng thổi: giai đoạn đầu, tiếng thổi thường ngắn, đến khi bệnh tiến triển, tiếng thổi trở thành toàn tâm trương, tuy vậy khi suy tim nặng, ở giai đoạn cuối, tiếng thổi thường ngắn lại do áp lực cuối tâm trương thất trái tăng dần lên. Vận cơ tĩnh (bóp chặt tay…), ngồi xổm, dùng thuốc tăng co cơ tim sẽ làm tăng tiếng thổi trong khi đang ngồi xổm đứng thẳng dậy, nghiệm pháp Valsalva hoặc hít Amyl Nitrite lại làm giảm tiếng thổi này.
  • Thổi tâm thu ở đáy tim lan lên các động mạch cảnh do tăng lưu lượng tống máu qua van động mạch chủ.
  • Rung tâm trương Austin Flint: nghe thấy ở mỏm tim trong trường hợp hở van động mạch chủ nặng: do dòng hở van động mạch chủ phụt ngược gây rung lá trước van hai lá hoặc dòng hở van động mạch chủ làm đóng sớm van hai lá và tạo dòng xoáy qua van hai lá gây rung. Khi đó, cần phân biệt với rung tâm trương do hẹp hai lá phối hợp.

4. Làm thế nào phát hiện được bệnh?

Thăm khám lâm sàng đã có thể hướng đến chẩn đoán bệnh với các triệu chứng: Mạch nảy mạnh, huyết áp tâm thu cao và tâm trương thấp nghe tim có tiếng thổi tâm trương đặc trưng.

  • Điện tâm đồ: Biểu hiện tăng gánh thể tích thất trái, ngoại tâm thu thường có.
  • Siêu âm tim.

Phương pháp siêu âm tim giúp chẩn đoán hở van động mạch chủPhương pháp siêu âm tim giúp chẩn đoán hở van động mạch chủ

  • Đánh giá kích thước và chức năng thất trái (quan trọng phân số tống máu).
  • Phát hiện các bệnh lý của động mạch chủ kèm theo, nhất là các trường hợp hở van động mạch chủ thứ phát do giãn gốc động mạch chủ
  • Hình thái của van động mạch chủ, qua đó đánh giá nguyên nhân gây hở van động mạch chủ như van động mạch chủ chỉ có hai lá van, van dầy của thấp tim, sa lá van…
  • Mức độ của hở van động mạch chủ.
  • Do tiến bộ của siêu âm tim nên thông tim và chụp buồng tim không còn được chỉ định để chẩn đoán hở van động mạch chủ. Tuy nhiên chụp động mạch vành bằng đường ống thông có thể nên làm trong những trường hợp bệnh nhân có yếu tố nguy cơ cao về bệnh mạch vành.

5. Điều trị hở van động mạch chủ bằng cách nào?

5.1. Điều trị bằng thuốc

Dùng thuốc để điều trịDùng thuốc để điều trị

  • Điều trị bằng thuốc không thể làm hết hở van động mạch chủ nhưng vẫn có vai trò tích cực trên những bệnh nhân chưa có triệu chứng hoặc chưa có chỉ định phẫu thuật.
  • Các thuốc giãn mạch: Các thuốc ức chế men chuyển (ACE) có thể không đem lại hiệu quả trong giai đoạn đầu của bệnh khi hệ Renin-Angiotensin chưa hoạt hóa. Ở trong giai đoạn sau, đây lại là thuốc điều trị cơ bản. Trong giai đoạn đầu các thuốc ức chế kênh canxi nhóm Dihydropyridine (như Amlodipine) có vai trò quan trọng nhất.
  • Các thuốc chẹn Beta giao cảm làm kéo dài thời kỳ tâm trương, về lý thuyết không có lợi nhưng vẫn nên dùng liều nhỏ vì sự liên quan giữa bệnh lý hở van động mạch chủ và bệnh lý phình động mạch chủ. Khi dùng cần theo dõi sát nhịp tim đề phòng nhịp tim chậm.
  • Bệnh nhân cần tư vấn các bác sĩ chuyên khoa tim mạch tỉ mỉ về các hoạt động thể lực. Bệnh nhân cần tránh các hoạt động nặng của tay như tập tạ, bóp tạ vì sẽ tăng trở kháng ngoại biên theo cơ chế phản xạ làm tăng gánh nặng cho tim. Tuy nhiên, nên khuyến khích đạp xe vì vận động đều các nhóm cơ lớn ở chi dưới nên có tác dụng giãn mạch và tạo cảm giác khỏe mạnh.

5.2. Phẫu thuật điều trị hở van động mạch chủ

Khi nào nên phẫu thuật?

  • Khi bệnh nhân xuất hiện triệu chứng khó thở hoặc đau ngực
  • Khi bệnh nhân chưa có triệu chứng nhưng chức năng tâm thất trái giảm (EF<50%), hoặc tuy chức năng tâm thu thất trái còn bảo tồn nhưng tâm thất trái giãn (DD>75mm hoặc DS>55mm)
  • Thay van cũng có thể được chỉ định sau khi bàn bạc với bệnh nhân về lợi hại của phẫu thuật trên những bệnh nhân ở ranh giới của phẫu thuật:
    * Bệnh nhân chưa có triệu chứng, chức năng tâm thu thất trái bảo tồn, tâm thất trái giãn ở mức độ (DD>70mm hoặc DS>50mm).
    * Bệnh nhân hở van động mạch chủ mức độ vừa cần phải phẫu thuật tim khác (ví dụ như phẫu thuật bắc cầu nối động mạch vành).

Phẫu thuật trong một số trường hợp nhất địnhPhẫu thuật trong một số trường hợp nhất định

Phương pháp phẫu thuật

  • Thay van động mạch chủ: Đây là phương pháp hay tiến hành nhất trong các phương pháp. Có hai loại van thường sử dụng là van cơ học và van sinh học. Tùy theo tuổi, tình trạng bệnh, giới cũng như các điểm khác mà bác sĩ và bệnh nhân sẽ thảo luận lựa chọn loại van thích hợp nhất
  • Phẫu thuật sửa van động mạch chủ : Trong một số trường hợp, phẫu thuật viên có thể sửa lại van động mạch chủ (sa van động mạch chủ, van động mạch chủ hai lá van, hở van động mạch chủ do giãn gốc động mạch chủ)
  • Khi có giãn gốc động mạch chủ kèm theo, phẫu thuật viên có thể thay gốc động mạch chủ và cả van động mạch chủ (phẫu thuật Bentall) hoặc thay gốc động mạch chủ và giữ lại van động mạch chủ (phẫu thuật David)
  • Van động mạch chủ cũng có thể được thay thế bởi van tự thân của bệnh nhân (dùng van động mạch phổi tự thân thay thế – phẫu thuật Ross). Tuy nhiên phẫu thuật này chỉ có ý nghĩa cho một nhóm nhỏ bệnh nhân (như trẻ em) vì lâu dài sẽ đặt bệnh nhân vào tình trạng bị bệnh hai van tim trong khi ban đầu chỉ bị thương tổn một van tim
  • Thay van đồng loại : Đây là phương pháp sử dụng van tim từ những bệnh nhân chết não hiến tặng. Phương pháp này rất hiệu quả trong những trường hợp viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn vì khả năng chống lại vi khuẩn gây bệnh của van đồng loại tốt hơn so với các loại van tim nhân tạo. Tuy nhiên về lâu dài van tim đồng loại cũng không tốt hơn van tim nhân tạo, hơn nữa khi phẫu thuật về kỹ thuật phức tạp hơn so với van tim nhân tạo.

Xem thêm: Hẹp van động mạch chủ gây ra những biến chứng nguy hiểm gì?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close