Sống khoẻ

Nhồi máu não có nguy hiểm không? Làm thế nào để nhận biết?

Nhồi máu não đang tăng cao do sự tăng lên của các bệnh lý tim mạch. Bệnh làm giảm lưu lượng tuần hoàn máu tới não, tắc mạch máu não hoặc do hạ huyết áp.

1. Nhồi máu não là gì?

Nhồi máu não là loại đột quỵ xảy ra do thiếu cung cấp máu lên não. Nó khác biệt với đột quỵ do xuất huyết xuất phát từ tình trạng chảy máu tại não. Khoảng 70 – 80% các cơn đột quỵ là nhồi máu não trong khi một số khác thì có các đặc điểm của cả nhồi máu não và xuất huyết não, số còn lại là xuất huyết não.

Nhồi máu não xảy ra do thiếu máu cung cấp lên nãoNhồi máu não xảy ra do thiếu máu cung cấp lên não

Máu chảy qua động mạch mang theo các hồng cầu vận chuyển khí oxy. Máu chảy qua động mạch cũng mang theo nước, chất dinh dưỡng, khoáng chất đến tất cả các tế bào trong cơ thể và loại bỏ các chất thải dư thừa. Vì vậy, việc cung cấp máu bị gián đoạn sẽ gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho tế bào não vì chúng cần khí oxy, nước, chất dinh dưỡng và khoáng chất để tồn tại.

Bệnh nhân nhồi máu não có tỷ lệ tử vong khoảng 15-20% và có thể chữa khỏi nếu đến viện sớm trong những giờ đầu kể từ khi có dấu hiệu đột quỵ. Bệnh nhân nhồi máu não đến viện sớm trong thời gian “vàng” sẽ có thể điều trị hiệu quả bằng thuốc tiêu sợi huyết và can thiệp nội mạch.

2. Nguyên nhân của nhồi máu não

  • Do huyết khối ở động mạch não (thrombosis): là quá trình xuất phát từ tổn thương thành mạch tại chỗ, sau đó tổn thương lớn dần lên rồi gây hẹp hoặc tắc động mạch não.
  • Do tắc mạch (embolism): cục tắc bắt nguồn từ hệ thống tim mạch (từ tim hay mảng xơ vữa) hoặc ngoài tim như bóng khí, tổ chức dập nát phần mềm của cơ thể), theo hệ thống tuần hoàn lên não, đến nơi động mạch hẹp hơn kích thước của nó sẽ nằm lại và gây tắc mạch.

Có 3 nguyên nhân chính gây nhồi máu nãoCó 3 nguyên nhân chính gây nhồi máu não

Các số liệu cụ thể về nguyên nhân gây nên nhồi máu não bao gồm:

  • Xơ vữa huyết khối của mạch máu lớn chiếm 50% gồm 45% mạch máu lớn ngoài sọ và 5% mạch máu lớn trong sọ.
  • Huyết khối từ tim như bệnh van tim, rung nhĩ, … chiếm 20%.
  • Tắc các mạch máu nhỏ trong não chiếm 25%.
  • Bệnh động mạch không xơ vữa và bệnh về máu đều chiếm dưới 5%.

3. Triệu chứng của nhồi máu não

Trường hợp điển hình, các triệu chứng xuất hiện đột ngột, tiến triển chỉ trong vài giờ đến vài ngày. Trên lý thuyết, các triệu chứng thần kinh khu trú tương ứng với khu vực tưới máu của động mạch bị tổn thương. Tuy nhiên, trên thực tế, do các động mạch thông nối với nhau nên có sự cấp máu bù bởi các động mạch còn nguyên, làm các triệu chứng xuất hiện không rõ ràng.

Bệnh nhân nhồi máu não sẽ có những triệu chứng lâm sàng chung như:

Triệu chứng thần kinh khu trú tùy thuộc vào khu vực và động mạch bị tổn thương. Triệu chứng thần kinh chung như:
  • Đau đầu, buồn nôn, nôn.
  • Rối loạn ý thức.
  • Rối loạn cơ tròn kiểu trung ương: bí đái, đái dầm, táo bón.
  • Rối loạn thần kinh thực vật: rối loạn về sinh hiệu.
  • Co giật, rối loạn tâm thần.
  • Hội chứng màng não: đau đầu, táo bón, nôn, Kernig (+).

Triệu chứng đau đầu, buồn nônTriệu chứng đau đầu, buồn nôn

Triệu chứng cụ thể theo vị trí động mạch bị tổn thương gồm các hội chứng:

Hội chứng động mạch cảnh trong:

  • Mất thị lực bên động mạch bị tổn thương.
  • Liệt nửa người bên đối diện (liệt trung ương).
  • Giảm áp lực võng mạc trung tâm.
  • Triệu chứng có thể hồi phục một phần hoặc hoàn toàn nếu động mạch chưa tắc hoàn toàn.

Hội chứng động mạch não trước:

  • Liệt nửa đối diện bên tổn thương.
  • Nửa người trái mất tác dụng do tổn thương thể chai.
  • Rối loạn cơ vòng do tổn thương tiểu thùy cạnh trung tâm.

Hội chứng động mạch não giữa:

  • Đối với tổn thương ở gốc động mạch thì triệu chứng lâm sàng rất nặng như liệt hoặc mất cảm giác nửa người bên đối diện tổn thương,rối loạn ngôn ngữ và ý thức.
  • Đối với tổn thương nhánh nông gây liệt không đồng đều nửa bên đối diện, ưu thế ở mặt và tay hơn là chân kèm rối loạn cảm giác.
  • Đối với tổn thương nhánh sâu sẽ gây liệt đồng đều nửa bên đối diện tổn thương nhưng không có rối loạn cảm giác đi kèm. Bệnh nhân có thể bị rối loạn ngôn ngữ nếu nửa tổn thương bán cầu trội.
  • Đối với tổn thương động mạch não giữa bán cầu trội, triệu chứng thường rối loạn ngôn ngữ vận động hoặc ngôn ngữ giác quan, khả năng xác định trái phải, khả năng tính toán, viết, thậm chí mất nhận thức cơ thể.

Hội chứng động mạch màng mạch trước:

Bệnh nhân liệt đồng đều toàn bộ nửa người trước, mất cảm giác nửa người kiểu đồi thị, bán manh đồng danh, tăng trương lực cơ và rối loạn thần kinh thực vật nửa người đối diện, không xuất hiện rối loạn ngôn ngữ.

Bệnh nhân bị liệt đồng đều toàn bộ nửa người trướcBệnh nhân bị liệt đồng đều toàn bộ nửa người trước

Hội chứng động mạch đốt sống thân nền:

  • Triệu chứng sẽ rất nặng nếu tổn thương toàn bộ động mạch đốt sống thân nền như: rối loạn trương lực cơ, duỗi cứng mất não, liệt các dây thần kinh sọ VII, IX, XI, XII, rối loạn thần kinh thực vật nặng, tiên lượng bệnh nhân xấu và dễ tử vong.
  • Tổn thương động mạch thân nền không hoàn toàn có thể gây hội chứng liệt hành não (liệt tứ chi trung ương kết hợp liệt các dây thần kinh sọ ngoại vi cả hai bên).
  • Tổn thương động mạch thân nền còn gây nên hội chứng tiểu não.

4. Chẩn đoán và điều trị nhồi máu não

Các triệu chứng của nhồi máu não xảy ra đột ngột lúc người bệnh đang ngủ. Các triệu chứng điển hình là đau đầu, nôn hoặc buồn nôn, liệt nửa người. Có thể có rối loạn ý thức nếu người bệnh có tổn thương nhồi máu não rộng, nhồi máu hai bên bán cầu não hoặc nhồi máu thân não.

4.1. Chẩn đoán

Chụp cắt lớp não: Trong giai đoạn tối cấp 3-6 giờ sau khi xuất hiện bệnh, các thay đổi trên hình ảnh chụp cắt lớp não rất kín đáo, chủ yếu do phù não ở vùng thiếu máu não gây ra.

Dấu hiệu sớm của nhồi máu não trên chụp cắt lớp vi tính não bao gồm mất ranh giới chất trắng chất xám, mờ rãnh cuộn não, hẹp khe Sylvius, mất dải băng thùy đảo, hẹp não thất và bể đáy, tăng tỷ trọng các mạch máu trong khu vực đa giác Willis do cục máu đông đặc biệt động mạch não giữa.

Trong giai đoạn sau khi ổ nhồi máu não đã được hình thành thì hình ảnh chụp cắt lớp não là ổ giảm tỷ trọng ở vùng vỏ não, vùng dưới vỏ hoặc ở vùng chất trắng; chất xám trong sâu theo vùng chi phối tưới máu của động mạch.

Chụp cộng hưởng từ não: Trong giai đoạn sớm của bệnh, ổ nhồi máu não giảm tín hiệu nhẹ trên ảnh T1W, tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Tiêm thuốc đối quang từ vào cơ thể thấy ổ tổn thương không ngấm thuốc. Trong giai đoạn bán cấp (sau 1 tuần bị bệnh), ổ nhồi máu não giảm tín hiệu trên ảnh T1W, tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Tiêm thuốc đối quang từ thì thấy ổ tổn thương ngấm thuốc. Giai đoạn muộn của bệnh, ổ nhồi máu não giảm tín hiệu trên ảnh T1W, tăng tín hiệu trên ảnh T2W. Hiệu ứng khối thường mất sau 1 tháng, hiện tượng ngấm thuốc đối quang từ sẽ giảm dần sau vài tháng.

Chụp cộng hưởng từ sọ nãoChụp cộng hưởng từ sọ não

Chụp mạch máu não số hóa xóa nền: Chụp động mạch não số hóa xóa nền (DSA) là kỹ thuật xâm nhập nhằm mục đích chẩn đoán một cách chính xác các bệnh lý tắc mạch máu não và đồng thời lấy cục máu đông qua đường nội mạch: sau khi phát hiện chỗ tắc mạch não qua chụp mạch não bằng chụp mạch và đưa dụng cụ vừa chọc vừa hút cục máu đông ra ngoài (máy hút, ống thông).

4.2. Điều trị

Các nguyên tắc điều trị nhồi máu não gồm có:

  • Điều trị tiêu huyết khối: là điều trị đặc hiệu của nhồi máu não nhưng để áp dụng được thì bệnh nhân cần phải đáp ứng các tiêu chuẩn xét nghiệm và thời gian, trong đó thời gian kể từ khi khởi phát phải không quá 3 giờ.
  • Sử dụng aspirin và các thuốc chống ngưng tập tiểu cầu khác: được sử dụng ở tất cả các trường hợp đột quỵ nhồi máu não ngoại trừ bệnh nhân bị dị ứng hoặc không dung nạp aspirin hoặc đang cân nhắc dùng thuốc tiêu huyết khối. Heparin và các thuốc chống đông khác chỉ được chỉ định điều trị trong trường hợp nhồi máu não có rung nhĩ, bệnh van tim hoặc ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu.
  • Điều trị thuốc hạ huyết áp: tăng huyết áp là nguy cơ chính của đột quỵ não nên điều trị hạ huyết áp là cần thiết đối với cả bệnh nhân tăng huyết áp chưa đột quỵ và bệnh nhân đã có nhồi máu não.
  • Điều trị đái tháo đường trong đột quỵ não: bệnh nhân nhồi máu não có bệnh kèm đái tháo đường được khuyến cáo điều trị để mức đường huyết về bình thường và HbA1c dưới 7%.

Sử dụng thuốc trong điều trịSử dụng thuốc trong điều trị

Chăm sóc bệnh nhân nhồi máu não cần lưu ý những biện pháp sau:

  • Giữ vệ sinh cá nhân cho người bệnh: vệ sinh của người nhồi máu não bị liệt sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào người chăm sóc, người bị liệt không tự chủ về việc đại tiểu tiện nên dễ dẫn đến viêm đường tiết niệu. Người chăm sóc cần vệ sinh cẩn thận và lau khô cho bệnh nhân sau khi đại tiểu tiện để tránh viêm nhiễm.
  • Đề phòng loét da do nằm lâu: loét thường gặp ở những chỗ tỳ đè nhiều như vùng cùng cụt, hai gót chân, bả vai, lưng, mông. Cần cho bệnh nhân nằm đệm hơi hoặc đệm nước, nghiêng trở mỗi 2 giờ và xoa bóp nhẹ nhàng vùng bị tỳ đè nhiều.
  • Đề phòng biến chứng về hô hấp: các bệnh lý về đường hô hấp do nằm lâu và ít vận động như viêm phổi, tắc nghẽn đường thở do ứ đọng đờm dãi cũng có thể xảy ra, do đó cần cho bệnh nhân ngồi dậy, vỗ rung vùng lưng hằng ngày để bệnh nhân dễ khạc đờm dãi hơn.

5. Phòng ngừa bệnh nhồi máu não

  • Tránh các yếu tố nguy cơ bằng cách xây dựng một lối sống lành mạnh và tích cực như: không hút thuốc lá, các chất kích thích, hạn chế rượu bia, duy trì một chế độ ăn lành mạnh nhiều rau, hoa quả cùng với tập thể dục thường xuyên để giảm nguy cơ béo phì, hạn chế ăn mặn và mỡ động vật.
  • Cần điều trị triệt để hoặc kiểm soát tốt các bệnh lý như: đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn mỡ, bệnh lý tim mạch thông qua các biện pháp như đo huyết áp hằng ngày, kiểm soát đường và mỡ trong máu.

Không hút thuốc và sử dụng các chất kích thíchKhông hút thuốc và sử dụng các chất kích thích

Bệnh nhân và người nhà cần lưu ý những dấu hiệu cần để nhận biết tai biến mạch máu não đó là FAST (nhanh) là các chữ cái viết tắt của:

  • Face (mặt): bệnh nhân cười hoặc nhe răng, một bên không cử động.
  • Arm (tay): cánh tay một bên yếu hơn bên kia khi đồng thời giơ cả hai tay lên.
  • Speech (lời nói): nói đớ líu lưỡi, dùng từ không thích hợp hoặc câm lặng.
  • Time (thời gian): nếu nghi ngờ có một trong các triệu chứng trên thì cần đưa bệnh nhân tới bệnh viện ngay và ghi nhớ thời gian khởi phát triệu chứng.

Xem thêm: Di dạng động – tĩnh mạch máu não và các phương pháp điều trị

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close