Sống khoẻ

Nhồi máu cơ tim cấp – căn bệnh đáng sợ mà mọi người nên biết!

Nhồi máu cơ tim cấp tính là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở các nước phát triển. Những năm gần đây ở Việt Nam, số ca nhồi máu cơ tim cấp có xu hướng tăng để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng.

1. Nhồi máu cơ tim cấp là gì?

Nhồi máu cơ tim cấp tính là hiện tượng hoại tử bất kỳ một lượng cơ tim nào đó do nguyên nhân thiếu máu cục bộ. Việc điều trị nhồi máu cơ tim cấp cần thực hiện khẩn trương và đúng cách nhằm làm giảm tối đa tỷ lệ tử vong và các biến chứng do bệnh lý này gây ra.

Đây là bệnh lý có tỷ lệ tử vong rất cao với 25% bệnh nhân nhồi máu cơ tim chết trong giai đoạn cấp tính của bệnh, và thường trước khi được cấp cứu tại các cơ sở y tế. Mặt khác, bệnh nhân trong nhóm được nhập viện điều trị cũng phải đối mặt với nhiều biến chứng nghiêm trọng khác như loạn nhịp tim, rung thất, thuyên tắc mạch máu, suy tim, viêm màng ngoài tim, suy tim … đưa đến những hậu quả nặng nề, đe dọa tính mạng người bệnh. Rung thấtbiến chứng nhồi máu cơ tim cấp nguy hiểm nhất, gây đột tử.

Nhồi máu cơ tim cấp tính là hiện tượng hoại tử bất kỳ một lượng cơ tim nào đó Nhồi máu cơ tim cấp tính là hiện tượng hoại tử bất kỳ một lượng cơ tim nào đó 

Theo Tổ chức y tế thế giới, có hơn 7,2 triệu người chết vì bệnh mạch vành năm 2004 và khoảng 57 triệu người chết vì bệnh tim mạch năm 2008, trong đó có 17,3 triệu người chết vì bệnh mạch vành, chiếm khoảng 31%. Theo Viện tim mạch Quốc gia Việt Nam, năm 2003 có 4,2% bệnh nhân nhập viện vì nhồi máu cơ tim cấp và tăng lên đến 9,1% vào năm 2007. Hiện nay ở nước ta chưa có thống kê đầy đủ về bệnh lý này, tuy nhiên tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong của nhồi máu cơ tim đang có xu hướng tăng lên.

Nhồi máu cơ tim cấp là thể nặng nề nhất của bệnh lý thiếu máu cơ tim cục bộ. Bệnh thường khởi phát đột ngột, và cần được xử trí khẩn cấp tại bệnh viện. Hiện nay việc điều trị nhồi máu cơ tim cấp đang rất được quan tâm và đạt được nhiều bước tiến đáng ghi nhận. yếu tố quyết định trong điều trị là thời gian, bệnh nhân được phát hiện và nhập viện càng sớm thì tiên lượng càng tốt so với những người chậm trễ.

2. Nguyên nhân của nhồi máu cơ tim cấp

Nguyên nhân trực tiếp của nhồi máu cơ tim cấpsự thiếu hụt dòng máu đến nuôi dưỡng các mô cơ tim. Giống với các cơ quan khác trong cơ thể người, cơ tim cũng cần được nhận máu để nuôi dưỡng và hoạt động. động mạch vành là động mạch chính nuôi dưỡng cơ tim. Với bất kỳ một lý do nào đó, khi dòng máu qua động mạch vành giảm sút đột ngột và kéo dài trong thời gian nhất định, tế bào cơ tim sẽ thiếu oxy, hoại tử và gây nên bệnh cảnh nhồi máu cơ tim cấp trên lâm sàng.

Xơ vữa động mạch vành là nguyên nhân chủ yếu gây nhồi máu cơ tim cấpXơ vữa động mạch vành là nguyên nhân chủ yếu gây nhồi máu cơ tim cấp

Xơ vữa động mạch vành là nguyên nhân hàng đầu trong nhồi máu cơ tim cấp. mảng xơ vữa trong lòng mạch gây hẹp lòng động mạch dẫn đến hiện tượng giảm dòng máu nuôi dưỡng cơ tim từ từ. nhồi máu cơ tim cấp chỉ xảy ra khi mảng xơ vữa nứt vỡ ra khỏi thành mạch và di chuyển, hình thành nên cục máu đông với nhiều tiểu cầu bám dính xung quanh, gây tắc mạch hoàn toàn.

Các can thiệp trên động mạch vành như đặt stent nong mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu động mạch vành cũng có thể là nguyên nhân của bệnh nhồi máu cơ tim cấp. cục máu đông có thể hình thành ở các vị trí đặt stent gây tắc nghẽn hoàn toàn động mạch vành.

Cục máu đông trong lòng động mạch vành còn có thể hình thành từ các nguyên nhân sau:

  • Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
  • Van tim nhân tạo.
  • U nhầy.
  • Huyết khối thành tim.
  • Bệnh lý viêm mạch máu như Takayasu, Kawashaki.
  • Bệnh lý tăng đông.

Nhồi máu cơ tim cũng có thể xảy ra do các nguyên nhân không liên quan đến cục máu đông như co thắt động mạch vành, bóc tách động mạch chủ, dị dạng động mạch bẩm sinh. Những nguyên nhân này chiếm tỷ lệ thấp và thường khó khảo sát.

Một số yếu tố có thể dẫn đến tắc nghẽn trong các động mạch vành là:

2.1.Cholesterol xấu

Cholesterol xấu, còn được gọi là lipoprotein mật độ thấp (LDL-C), là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tắc nghẽn trong động mạch. Cholesterol là một chất không màu được tìm thấy trong thực phẩm chúng ta ăn vào và cũng một phần do cơ thể chúng ta cũng tự sản sinh ra.

Cholesterol xấu gây tắc nghẽn động mạchCholesterol xấu gây tắc nghẽn động mạch

Không phải tất cả cholesterol đều xấu, nhưng LDL-C có thể dính vào thành động mạch và tạo ra mảng xơ vữa. Mảng xơ vữa là một chất cứng ngăn chặn lưu lượng máu trong động mạch. Khi mảng xơ vữa có hiện tượng nứt vỡ, các tiểu cầu trong máu kéo đến tác dụng hình thành cục máu đông, gây hẹp và tắc nghẽn lòng mạch.

2.2.Chất béo bão hòa

Chất béo bão hòa cũng có thể góp phần vào sự tích tụ mảng xơ vữa trong động mạch vành. Chất béo bão hòa được tìm thấy chủ yếu trong thịt và các sản phẩm từ sữa, bao gồm thịt bò, bơ và phô mai. Những chất béo này có thể dẫn đến tắc nghẽn động mạch qua sự tăng lượng cholesterol xấu trong máu và giảm lượng cholesterol tốt.

2.3. Chất béo chuyển hóa

Một loại chất béo khác góp phần vào làm tắc nghẽn động mạch là chất béo chuyển hóa, hoặc chất béo hydro hóa. Chất béo chuyển hóa thường được sản xuất nhân tạo và có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm chế biến. Chất béo chuyển hóa thường được liệt kê trên nhãn thực phẩm là dầu hydro hóa hoặc dầu hydro hóa một phần.

3. Dấu hiệu nhồi máu cơ tim cấp tính

Người bệnh có thể nhận biết cơn nhồi máu cơ tim cấp qua các dấu hiệu đặc trưng như:

  • Cơn đau thắt ngực điển hình: triệu chứng đau như bóp nghẹt ở phía sau xương ức hoặc vùng trước tim, đau lan lên vai trái và mặt trong tay trái cho đến tận ngón đeo nhẫn và ngón út.
  • Cơn đau thường xuất hiện đột ngột, thường kéo dài hơn 20 phút và không giảm ngay cả khi dùng nitroglycerin.
  • Đau có thể lan lên cổ, vai, cằm, sau lưng, tay phải hoặc vùng thượng vị;
  • Có trường hợp bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim mà không có hoặc ít cảm giác đau (thường hay gặp ở bệnh nhân sau mổ, người già, người bị đái tháo đường hoặc bị tăng huyết áp).

Vã mồ hôi, khó thở cũng là dấu hiệu của nhồi máu cơ tim cấp tínhVã mồ hôi, khó thở cũng là dấu hiệu của nhồi máu cơ tim cấp tính

  • Các triệu chứng khác: vã mồ hôi, khó thở, hồi hộp trống ngực, nôn hoặc buồn nôn, lú lẫn, tái nhợt da, lạnh đầu chi… Các triệu chứng này phản ánh tình trạng tụt áp hay trụy tim mạch.

4. Các biện pháp chẩn đoán và điều trị nhồi máu cơ tim cấp

4.1. Các biện pháp chẩn đoán

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cần có sự kết hợp giữa khai thác bệnh sử, các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng như sau:

  • Điện tâm đồ (ECG): ST chênh lên và sự thay đổi sóng T là những biểu hiện thường thấy của nhồi máu cơ tim cấp. sự xuất hiện của sóng Q chứng tỏ cơ tim đã bị hoại tử và tạo sẹo. vị trí các điện cực xuất hiện các sóng gợi ý vị trí vùng cơ tim bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, cần lưu ý trong một vài trường hợp nhồi máu cơ tim, điện tâm đồ của bệnh nhân vẫn hoàn toàn bình thường.

Chẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp bằng chẩn đoán cận lâm sàngChẩn đoán nhồi máu cơ tim cấp bằng chẩn đoán cận lâm sàng

  • Định lượng men tim: troponin I, troponin T, CKMB là những chất chỉ điểm khi cơ tim bị tổn thương, tăng lên sau vài giờ.
  • Chụp động mạch vành: là phương pháp chẩn đoán chính xác nhất giúp quyết định các điều trị bệnh phù hợp với từng bệnh nhân.

4.2. Điều trị nhồi máu cơ tim cấp

  • Nhồi máu cơ tim cấp là một siêu cấp cứu, người bệnh cần được đưa ngay đến cơ sở y tế càng sớm càng tốt để được xử trí đúng, nhanh;
  • Với các điều trị ban đầu, người bệnh được nằm bất động tại giường, thở oxy, dùng các thuốc cần thiết như: thuốc giảm đau, thuốc chống ngưng kết tiểu cầu, nitroglycerin, thuốc chống đông;
  • Bên cạnh đó, người bệnh còn được thực hiện các biện pháp như: Tiêu huyết khối, can thiệp động mạch vành qua da, phẫu thuật bắc cầu nối chủ – vành cấp cứu để tái tưới máu cơ tim;
  • Sau khi được cấp cứu thành công, người bệnh tiếp tục được theo dõi, dùng thuốc cùng với chế độ ăn uống, luyện tập phù hợp.

Điều trị ban đầu

Khẩn trương đánh giá tình trạng bệnh nhân và chuyển ngay đến những cơ sở có thể điều trị tái tưới máu. Các biện pháp chung, ban đầu cho mọi bệnh nhân là:

  • Bệnh nhân phải được bất động tại giường;
  • Thở oxy: với liều 2 – 4 lít/phút qua đường mũi vì nhồi máu cơ tim cấp thường kèm theo thiếu oxy. Một số trường hợp suy hô hấp nặng cần phải đặt nội khí quản và cho thở máy phù hợp.

Thở oxy đối với bệnh nhân suy hô hấpThở oxy đối với bệnh nhân suy hô hấp

  • Thuốc giảm đau: Morphin sulphat là thuốc được lựa chọn hàng đầu, liều dùng từ 2 – 4 mg tiêm tĩnh mạch, nhắc lại sau 5 – 10 phút nếu bệnh nhân vẫn đau. Chú ý nhịp thở của bệnh nhân và nhịp tim.
  • Nitroglycerin (0.4 mg) ngậm dưới lưỡi, có thể nhắc lại sau mỗi 5 phút. Cần chú ý huyết áp: nếu huyết áp tối đa còn > 90 mmHg là tốt. Tiếp theo thiết lập ngay đường truyền tĩnh mạch và truyền Nitroglycerin với tốc độ 10 mcg/phút, có thể chỉnh liều theo con số huyết áp của người bệnh; nếu huyết áp tụt thì không dùng Nitroglycerin, cần áp dụng ngay các biện pháp vận mạch. Lưu ý là Nitroglycerin có thể gây nhịp chậm và không dùng khi có nhồi máu cơ tim thất phải.
  • Thuốc chống ngưng kết tiểu cầu: cho ngay Aspirin bằng đường uống dạng không bọc, với liều nạp từ 160 – 325 mg hoặc có thể cho bằng đường tiêm tĩnh mạch 500mg, có thể bằng dạng gói bột Aspegic. Nếu bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày tá tràng đang tiến triển thì có thể thay bằng Ticlopidine (Ticlid) 250 mg x 2 viên/ngày hoặc Clopidogrel (Plavix) cho ngay 300 mg sau đó duy trì 75 mg/ngày.
  • Thuốc chống đông: Heparin tiêm tĩnh mạch liều 65 – 70 đơn vị/kg sau đó duy trì liều 15-18 đơn vị/kg/giờ;
  • Thuốc chẹn beta giao cảm: Thuốc hay dùng là Metoprolol tiêm tĩnh mạch 5mg, nhắc lại mỗi 5 phút cho đến tổng liều là 15mg, tiếp tục cho uống 25 – 50 mg. Các thuốc khác có thể dùng là: Atenolol, Esmolol. Không dùng các thuốc này khi bệnh nhân có dấu hiệu: suy tim nặng, nhịp tim chậm <60 lần/phút, huyết áp tâm thu <90 mmHg, blốc nhĩ thất độ cao, bệnh phổi tắc nghẽn, bệnh mạch ngoại vi nặng.

Điều trị tái tưới máu

Can thiệp động mạch vành trong giai đoạn cấp cứu (nong, đặt Stent):

Chỉ định trong trường hợp:

  • Can thiệp động mạch vành cấp nên chỉ định ở những bệnh nhân có chống chỉ định của thuốc tiêu huyết khối hoặc có tình trạng huyết động không ổn định (sốc tim) hoặc có rối loạn nhịp tim.
  • Can thiệp khi dùng thuốc tiêu huyết khối thất bại: tức là sau khi dùng thuốc tiêu huyết khối mà bệnh nhân vẫn còn đau ngực, lâm sàng không ổn, đoạn ST vẫn chênh lên trên điện tâm đồ thì có chỉ định can thiệp động mạch vành.

Đặt stent nong động mạch vànhĐặt stent nong động mạch vành

Khi can thiệp động mạch vành cấp cần dùng phối hợp với các thuốc:

  • Aspirin liều 325mg/ngày: thời gian dùng kéo dài, phối hợp với Ticlopidine (Ticlid) 250mg x 2 lần/ngày trong nửa tháng hoặc Clopidogrel (Plavix) 75 mg/ngày;
  • Các thuốc ức chế thụ thể GP IIb/IIIa (ReoPro, Aggrastat…) là những thuốc chống ngưng kết tiểu cầu triệt để. Khi dùng cùng với can thiệp Động mạch vành cấp làm giảm đáng kể tỷ lệ tai biến do can thiệp và tỷ lệ tắc mạch sau can thiệp;
  • Heparin là cần thiết trong khi can thiệp. Nếu can thiệp kết quả thành công có thể xét dừng Heparin sau can thiệp.

Mổ làm cầu nối chủ – vành cấp cứu:

Chỉ định trong trường hợp: Khi bệnh nhân đau ngực tái phát sau dùng tiêu huyết khối hoặc động mạch vành không thích hợp cho can thiệp (tổn thương nhiều thân, tổn thương thân chung, tổn thương phức tạp…), hoặc can thiệp thất bại, bệnh nhân có những biến chứng cơ học…

Xem thêm: Nguy cơ mắc bệnh nhồi máu cơ tim và chế độ ăn uống hợp lý!

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close