Sống khoẻ

Hẹp van động mạch chủ gây ra những biến chứng nguy hiểm gì?

Hẹp van động mạch chủ sẽ làm cản trở sự lưu thông của dòng máu chứa oxy và dưỡng chất tới các bộ phận trong cơ thể. Đây là 1 trong 4 loại bệnh van tim thường gặp nhất và có nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời.

1. Động mạch chủ và hẹp van động mạch chủ

Động mạch chủ (ĐMC) là động mạch lớn nhất trong cơ thể đưa máu từ tim đi nuôi toàn bộ cơ thể; là phần động mạch chủ nằm ở ngực, phía trước cột sống, cấp máu cho tim, não, đầu cổ, cột sống. Kích thước bình thường của động mạch chủ ngực tăng dần cùng với tuổi bệnh nhân và nằm trong khoảng từ 2 – 3,5 cm.

Van động mạch chủ là lá van ngăn cách giữa ĐMC và tâm thất trái, có nhiệm vụ đóng trong thời kỳ tâm trương ngăn không cho máu đổ ngược từ ĐMC về thất trái và mở trong thời kỳ tâm thu để bơm máu từ tâm thất trái lên động mạch chủ vào hệ tuần hoàn. Nếu trong trường hợp van bị tổn thương vì bất cứ lý do gì sẽ dẫn đến tình trạng đóng không kín trong thời kỳ tâm trương gây hở van ĐMC, van không mở hết trong thời kỳ tâm thu gây hẹp van ĐMC.

Hẹp van động mạch chủ là căn bệnh phổ biến nhất về van timHẹp van động mạch chủ là căn bệnh phổ biến nhất về van tim

Hẹp van động mạch chủ (HC) là nguyên nhân thường gặp nhất gây tắc nghẽn đường tống máu của thất trái. Các nguyên nhân khác bao gồm hẹp dưới van động mạch chủ do màng xơ, hẹp dưới van động mạch chủ do cơ tim phì đại và hẹp trên van động mạch chủ. Đây là căn bệnh phổ biến nhất về van tim, chiếm 1/4 số ca mắc bệnh về van tim với 80% các bệnh nhân hẹp van động mạch chủ là nam giới.

2. Triệu chứng của hẹp van động mạch chủ

Phần lớn bệnh nhân khi đi khám chưa có triệu chứng cơ năng tuy nhiên buộc phải hỏi kỹ để phát hiện tiền sử đau ngực, choáng váng, ngất hoặc các dấu hiệu khác của suy tim. Tiền sử hẹp eo động mạch chủ gợi ý bệnh van động mạch chủ có hai lá van, ngược lại nếu bệnh nhân được chẩn đoán van động mạch chủ có hai lá van, phải đo huyết áp động mạch tứ chi để loại trừ hẹp eo động mạch chủ. Tiền sử thấp tim gợi ý nguyên nhân hẹp van động mạch chủ là di chứng thấp tim.

Đau ngực là triệu chứng thường gặp nhấtĐau ngực là triệu chứng thường gặp nhất

2.1. Triệu chứng cơ năng

Thường chỉ gặp khi hẹp van động mạch chủ mức độ nặng.

  • Đau ngực do tăng tiêu thụ ôxy cơ tim trong khi cung cấp ôxy cho cơ tim bị giảm hoặc do xơ vữa mạch vành. 25% số bệnh nhân không đau ngực đã có bệnh mạch vành, trong khi đó 40-80% số bệnh nhân hẹp van động mạch chủ đau ngực có kèm bệnh mạch vành.
  • Choáng váng, ngất: do tắc nghẽn cố định đường tống máu thất trái và giảm khả năng tăng cung lượng tim, bệnh nhân hẹp van động mạch chủ có thể tụt huyết áp nặng trong các tình huống giảm sức cản ngoại vi dẫn đến choáng váng hoặc ngất.
  • Biểu hiện của suy tim: do rối loạn chức năng tâm thu hoặc chức năng tâm trương. Theo tiến triển của bệnh, xơ hoá cơ tim sẽ dẫn tới giảm co bóp. Các cơ chế bù trừ nhằm làm tăng thể tích trong lòng mạch sẽ làm tăng áp lực thất trái cuối tâm trương, tăng áp lực mao mạch phổi bít gây ứ huyết phổi. Các tình trạng gây rối loạn đổ đầy thất trái như rung nhĩ hoặc tim nhanh đơn thuần có thể gây biểu hiện suy tim.

2.2. Triệu chứng thực thể

Bắt mạch:

Triệu chứng mạch cảnh nẩy yếu và trễTriệu chứng mạch cảnh nẩy yếu và trễ

Triệu chứng nổi bật của hẹp van động mạch chủ là mạch cảnh nẩy yếu và trễ (pulsus parvus et tardus), là dấu hiệu tốt nhất cho phép ước lượng mức độ hẹp van động mạch chủ tại giường.

Một số bệnh nhân lớn tuổi bắt mạch lại vẫn thấy gần giống bình thường do giảm độ chun giãn của thành mạch, nên gây ước lượng thấp mức độ hẹp van động mạch chủ. Bắt mạch ngoại vi đều giảm khi có hẹp van động mạch chủ nặng. Đôi khi sờ thấy rung miu tâm thu dọc theo động mạch cảnh ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ khít. Có thể sờ thấy rung miu tâm thu ở khoang liên sườn II bên phải ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ.

Sờ thấy mỏm tim đập rộng, lan tỏa nếu thất trái phì đại nhưng chưa lớn hẳn.

Đối với một số trường hợp, sờ thấy mỏm tim đập đúp, tương ứng với sóng a hay tiếng T4 do thất trái giãn nở kém.

Nghe tim: 

Các tiếng bệnh lý chính bao gồm:

Thổi tâm thu tống máu ở phía trên bên phải xương ức, lan lên cổ, đạt cường độ cao nhất vào đầu-giữa tâm thu. Mức độ hẹp van động mạch chủ càng nặng, tiếng thổi càng dài hơn, mạnh hơn và đạt cực đại chậm hơn (cuối kỳ tâm thu). Tuy nhiên cường độ tiếng thổi không liên quan chặt với mức độ hẹp do cường độ tiếng thổi có thể giảm nhẹ đi nếu cung lượng tim giảm nhiều hoặc chức năng thất trái giảm nặng. Trường hợp van động mạch chủ có hai lá van, còn di động, có thể nghe được tiếng mở van động mạch chủ trước tiếng thổi tâm thu.

Tiếng T1 nói chung không thay đổi khi hẹp van động mạch chủ, tuy nhiên nếu chức năng tâm thu thất trái rối loạn nặng và tăng áp lực cuối tâm trương thất trái, âm sắc T1 giảm do hiện tượng đóng sớm và giảm lực tác động đóng van hai lá.

Thành phần chủ của tiếng T2 giảm đi khi hẹp van động mạch chủ  khít, T2 trở nên nhẹ và gọn (đơn độc) do chỉ nghe thấy thành phần phổi của tiếng T2. Một số bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng có tiếng T2 tách đôi nghịch thường do kéo dài thời gian tống máu thất trái qua lỗ van hẹp khít. T2 tách đôi nghịch thường cũng gặp trong các tắc nghẽn đường tống máu thất trái khác và trong bloc nhánh trái. Tiếng T3 là dấu hiệu chức năng tâm thu thất trái kém. Tiếng T4 xuất hiện do nhĩ trái co bóp tống máu vào buồng thất trái có độ giãn kém khi hẹp van động mạch chủ khít.

Ngoài ra, có thể gặp các tiếng thổi của hở van động mạch chủ do hẹp thường đi kèm hở van. Hiện tượng Gallevardin xảy ra trong một số trường hợp hẹp van động mạch chủ nặng, vôi hoá: thành phần âm sắc cao của tiếng thổi lại lan xuống mỏm tim, dễ lẫn với tiếng thổi của hở van hai lá kèm theo.

Nhịp tim nhanh ngay cả lúc nghỉNhịp tim nhanh ngay cả lúc nghỉ

Nhịp tim nhanh lúc nghỉ ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng là một trong những dấu hiệu đầu tiên của tình trạng cung lượng tim giảm thấp.

3. Nguyên nhân hẹp van động mạch chủ

Một số nguyên nhân chính gây ra bệnh hẹp van động mạch chủ

  • Hẹp van động mạch chủ bẩm sinh: Do cấu tạo bất thường của van tim từ khi mới sinh ra như van 2 lá (chiếm 1 – 2% dân số), chủ yếu ở nam giới. Những người bị dính lá van, van một cánh… Theo thời gian van động mạch chủ thường thoái hóa và vôi hóa sớm hơn người thường.
  • Hẹp van tim do thoái hóa và vôi hóa (thường gặp nhiều nhất ở người cao tuổi, phổ biến nhất 70 – 80 tuổi). Tuổi thọ tăng dần sẽ làm cho van động mạch chủ bị vô hóa, các mảng cholesterol đóng ở van tim, gây ra nhiều vấn đề về tim mạch trong đó có hẹp van động mạch chủ.

Tình trạng vôi hoá van timTình trạng vôi hoá van tim

  • Do thấp tim: Thấp tim kèm theo bệnh van 2 lá, thấp tim gây xơ hóa, vôi hóa, dính các lá van và mép van của động mạch chủ, dày bờ lá van.

4. Biến chứng nguy hiểm của hẹp van động mạch chủ

Hẹp van động mạch chủ có nhiều biến chứng nguy hiểm khi tiến triển đến giai đoạn nặng:

  • Viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.
  • Rối loạn nhịp thất: Ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất, rung thất.
  • Rối loạn nhịp nhĩ: Rung nhĩ hay gây ra các đợt suy tim cấp do mất cơ chế bóp bù của tâm nhĩ, giảm lưu lượng nhĩ – thất, giảm cung lượng tim.
  • Đột tử.
  • Tắc mạch do các mảnh vôi hóa, xơ vữa, mảnh sùi…
  • Hội chứng mạch vành cấp.

Bệnh thường diễn biến âm thầm nhiều năm trước khi có triệu chứng rõ rệt. Nguy cơ tử vong cao với những triệu chứng:

  • Đau tức ngực: Tỷ lệ sống chỉ còn 50% sau 5 năm.
  • Ngất, choáng váng: Tỷ lệ sống chỉ còn 50% sau 3 năm.
  • Suy tim: Thời gian sống còn dưới 2 năm.

Triệu chứng choáng váng, ngấtTriệu chứng choáng váng, ngất

Để phòng ngừa bệnh hẹp van tim, bạn cần khám sức khỏe định kỳ 6 tháng 1 lần, có lối sống khoa học và lành mạnh. Khi được chẩn đoán hẹp van động mạch chủ, bạn cần có quá trình điều trị đúng theo lời khuyên của bác sĩ tại những địa chỉ y tế uy tín.

5. Các xét nghiệm chẩn đoán

  • Điện tâm đồ

Thường có dày nhĩ trái (80%) và phì đại thất trái (85%). Rối loạn nhịp ít khi xảy ra, chủ yếu ở giai đoạn cuối và đa số là rung nhĩ, nhất là khi có kèm bệnh van hai lá. Bloc nhĩ thất có thể gặp khi có ápxe vòng van biến chứng của viêm nội tâm mạc.

  • X-quang ngực

Ít có giá trị chẩn đoán do hình ảnh có thể hoàn toàn bình thường. Bóng tim giống hình chiếc ủng nếu phì đại thất trái đồng tâm. Hình tim thường to nếu đã có rối loạn chức năng thất trái hoặc có HoC phối hợp. Một vài hình ảnh khác có thể bắt gặp là hình ảnh vôi hoá van động mạch chủ ở người lớn tuổi (phim nghiêng) hoặc giãn đoạn động mạch chủ lên sau hẹp.

  • Siêu âm Doppler tim

Siêu âm Doppler tim là phương pháp được lựa chọn để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng của hẹp chủ. Các mặt cắt cạnh ức (2D hoặc TM) là những vị trí tốt nhất để đánh giá cơ chế, nguyên nhân hẹp van động mạch chủ và đo đạc kích thước buồng tim, thành tim.

Siêu âm timSiêu âm tim

  • Siêu âm tim qua thực quản

Có thể đo trực tiếp diện tích lỗ van (2D), nhưng khó lấy được phổ Doppler của dòng chảy qua van bị hẹp hơn. Công cụ này rất có ích để đánh giá hình thái van động mạch chủ trong bệnh hẹp van động mạch chủ bẩm sinh.

  • Siêu âm gắng sức

Nhằm phân biệt những trường hợp hẹp van động mạch chủ thực sự có rối loạn chức năng tâm thu thất trái nặng (nên chênh áp qua van thấp) với những trường hợp giả hẹp (bệnh lý ảnh hưởng đến cơ tim từ trước, có kèm hẹp van động mạch chủ nhẹ, nên cũng rối loạn chức năng tâm thu thất trái và chênh áp thấp qua van động mạch chủ) bởi trường hợp giả hẹp không hề có cải thiện sau khi được mổ.

Dobutamine truyền với liều tăng dần từ 5 đến 20 mg/kg/phút để tăng dần cung lượng tim, sau đó dùng siêu âm tim kiểm tra từng bước diện tích lỗ van và chênh áp qua van động mạch chủ. Cần ngừng ngay nghiệm pháp khi bệnh nhân tụt áp, đau ngực hoặc xuất hiện rối loạn nhịp tim.

  • Thông tim

Trước đây thông tim là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán và lượng giá hẹp van động mạch chủ. Tuy nhiên ngày nay, siêu âm tim dần dần đã được chấp nhận rộng rãi như một phương tiện để chẩn đoán và đánh giá hẹp van động mạch chủ thay thế cho thông tim.

6. Điều trị

6.1. Lựa chọn biện pháp điều trị

Cốt lõi của điều trị hẹp van động mạch chủ nặng là phẫu thuật thay van động mạch chủ.

Nói chung phẫu thuật ưu tiên cho những bệnh nhân đã có triệu chứng cơ năng, do thay van động mạch chủ có nguy cơ biến chứng khá cao và tỷ lệ sống còn chỉ thực sự cải thiện rõ rệt khi bệnh nhân đã bộc lộ triệu chứng cơ năng.

Phải lựa chọn phương pháp điều trị phù hợpPhải lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp

Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy khi hẹp van động mạch chủ tới mức độ nặng, thì xu hướng sẽ xuất hiện triệu chứng và phải mổ thay van chỉ trong vòng 3 năm. Đối với bệnh nhân lớn tuổi đã hẹp khít van động mạch chủ, việc mổ khi chưa có triệu chứng xem ra có lợi hơn so với việc đợi đến khi xuất hiện triệu chứng cơ năng. Mổ sớm cũng có lợi đối với những bệnh nhân trẻ mà chênh áp qua van động mạch chủ rất cao vì hạn chế được nguy cơ cao xuất hiện đột tử.

Tương tự, bệnh nhân có diện tích lỗ van động mạch chủ £ 1,0 cm2 kèm theo hẹp đáng kể động mạch vành và cần làm cầu nối chủ-vành thì nên tính cả đến việc mổ thay van động mạch chủ.

6.2. Điều trị nội khoa

Bắt buộc phải điều trị kháng sinh dự phòng viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn.

Với bệnh nhân chưa có triệu chứng cơ năng (diện tích lỗ van động mạch chủ > 1,0 cm2) thì điều trị có mục đích phòng tiên phát bệnh lý động mạch vành, duy trì nhịp xoang và khống chế huyết áp. Tất cả bệnh nhân phải được hướng dẫn về các dấu hiệu và triệu chứng của đau thắt ngực, ngất hoặc suy tim để đi khám lại ngay và xét mổ nếu xuất hiện các triệu chứng cơ năng này, vì khi đó nguy cơ phẫu thuật thấp hơn các nguy cơ của việc tiếp tục điều trị nội khoa.

Điều trị suy tim nhằm vào việc kiểm soát cân bằng dịch để giảm ứ huyết phối, thường bằng thuốc lợi tiểu. Tuy nhiên, cung lượng tim ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng phụ thuộc nhiều vào tiền gánh, nên cần rất thận trọng khi dùng lợi tiểu để tránh dùng liều quá cao, gây tụt huyết áp (do giảm cung lượng tim) và giảm tưới máu ngoại vi.

Tránh dùng các thuốc nhóm Nitrates ở bệnh nhân suy tim do hẹp van động mạch chủ nặng vì thuốc làm giảm tiền gánh đáng kể, có thể gây giảm tưới máu não và ngất. Digoxin thường chỉ được chỉ định cho bệnh nhân hẹp van động mạch chủ suy tim nhất là khi rung nhĩ.

Điều trị hẹp van động mạch chủ có suy tim bằng thuốc không hề cải thiện tiên lượng sống lâu dài của bệnh nhân. Hơn nữa, điều trị nội khoa bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng và rối loạn chức năng thất trái quá tích cực không hề có lợi mà còn nguy hiểm.

Sử dụng thuốc kháng sinh dự phòng là điều bắt buộcSử dụng thuốc kháng sinh dự phòng là điều bắt buộc

Tránh dùng các thuốc giãn mạch cho bệnh nhân hẹp chủ đơn thuần.

Trong một số bệnh cảnh hẹp hở van động mạch chủ, hẹp van động mạch chủ phối hợp hở van hai lá, hẹp van động mạch chủ phối hợp bệnh mạch vành thì có thể cân nhắc việc dùng các thuốc giãn mạch song nên hết sức thận trọng, đôi khi phải theo dõi huyết động cho bệnh nhân tại phòng hồi sức. Trên lý thuyết, bệnh nhân hở van nhiều sẽ có lợi khi dùng thuốc giãn mạch; bệnh nhân có bệnh mạch vành cũng có lợi vì giảm hậu gánh sẽ làm giảm nhu cầu ôxy cơ tim. Dù vậy, thuốc giãn mạch chỉ là biện pháp điều trị tạm thời trước khi mổ làm cầu nối chủ vành.

Liều khởi đầu nên dùng rất thấp tại phòng hồi sức (tốt nhất là nitroprusside để dễ chỉnh liều), sau khi đã ổn định liều giãn mạch sẽ chuyển dần sang thuốc uống (ức chế men chuyển, Hydralazine).

Bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng chịu đựng rất kém tình trạng rung nhĩ (vì tiền gánh thất trái phụ thuộc rất nhiều vào co bóp nhĩ), nhanh chóng-dễ dàng gây giảm cung lượng tim và ứ huyết phổi, đồng thời tăng nhu cầu ôxy (do nhịp nhanh). Bởi vậy, cần điều trị tích cực rung nhĩ ngay từ lúc mới khởi phát ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng nhằm chuyển về nhịp xoang.

Đối với bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng và chức năng thất trái rối loạn nặng, có chênh áp qua van động mạch chủ thấp: phẫu thuật chỉ cải thiện triệu chứng khoảng 50%, 50% còn lại không hề cải thiện triệu chứng và chết trong giai đoạn hậu phẫu mà không ít trong số đó là các trường hợp giả hẹp chủ (rối loạn chức năng cơ tim nặng từ trước kèm theo giả hẹp van động mạch chủ do cung lượng tim thấp). Tuy còn nhiều điểm chưa thống nhất song trước khi đi đến việc lựa chọn bệnh nhân phù hợp và quyết định mổ, thì:

Nên làm siêu âm tim gắng sức hoặc nghiệm pháp kích thích khi thông tim để đánh giá những trường hợp hẹp van động mạch chủ thực sự gây rối loạn chức năng thất trái nặng bằng cách đo diện tích lỗ van và chênh áp qua van động mạch chủ khi cung lượng tim tăng. Nếu cung lượng tim tăng đáng kể mà không gây thay đổi chênh áp thì đó là giả hẹp, ngược lại nếu cung lượng tim tăng gây tăng chênh áp qua van thì đó là hẹp thật.

Nên thử nong van bằng bóng qua da: nếu triệu chứng suy tim và cung lượng tim cải thiện sau can thiệp thì khả năng hồi phục sau mổ thay van động mạch chủ sẽ lớn hơn.

6.3. Điều trị can thiệp

Đặt bóng trong động mạch chủ (IABP): nhằm ổn định tạm thời tình trạng huyết động ở bệnh nhân hẹp van động mạch chủ nặng, suy tim mất bù để chuẩn bị mổ. Hiệu quả của đặt bóng trong động mạch chủ là nhờ tăng tưới máu mạch vành trong kỳ tâm trương, làm giảm tình trạng thiếu máu của toàn thể cơ tim khi hẹp van động mạch chủ khít, suy tim mất bù.

Đặt bóng trong động mạch chủ làm giảm tình trạng thiếu máu của toàn thể cơ timĐặt bóng trong động mạch chủ làm giảm tình trạng thiếu máu của toàn thể cơ tim

Nong van động mạch chủ bằng bóng qua da: có vai trò rõ rệt đối với hẹp van động mạch chủ bẩm sinh ở trẻ em tuy không được áp dụng tuyệt đối ở bệnh hẹp van động mạch chủ mắc phải. Mặc dù kỹ thuật này có nhiều hứa hẹn nhưng so với mổ thì vẫn chưa hiệu quả bằng: sau thủ thuật, diện tích lỗ van tăng lên 50% song sau 6 tháng có tới 50% tái phát.

Vì thế nong van động mạch chủ bằng bóng chỉ được chỉ định trong một số trường hợp nhất định như: hẹp van động mạch chủ bẩm sinh ở trẻ em, bệnh nhân không thể mổ do tuổi cao hay có bệnh phối hợp, điều trị tạm thời trước khi mổ có chuẩn bị, điều trị thử ở bệnh nhân có rối loạn chức năng thất trái nặng (xem liệu bệnh nhân có cải thiện sau mổ hay không). Tỷ lệ tử vong của thủ thuật này khoảng 2-5%.

6.4. Điều trị ngoại khoa

Các loại phẫu thuật thay van động mạch chủ

  • Phẫu thuật Ross (ghép van tự thân): van và thân động mạch phổi được cắt luôn cả khối rồi thay vào vị trí của van động mạch chủ đồng thời cắm lại hai động mạch vành. Chỗ van động mạch phổi bị cắt sẽ được thay thế bằng một van động mạch phổi đồng loài. Van ghép tự thân kiểu này rất tốt về huyết động, không cần dùng thuốc chống đông, ít vôi hoá hơn so với các van sinh học khác, có thể lớn lên theo phát triển của cơ thể, có đặc tính chống nhiễm trùng rất cao… nên rất phù hợp để làm ở trẻ nhỏ hoặc ở bệnh nhân viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn song đòi hỏi kỹ thuật cao và thời gian kéo dài, dễ gây ra nhiều rối loạn sau mổ. Tiên lượng lâu dài phụ thuộc vào mức độ hở van động mạch chủ, bệnh lý van động mạch phổi (hở, hẹp) hay các rối loạn chức năng thất phải (thứ phát sau bệnh van ĐMP).

Có nhiều loại phẫu thuật thay van động mạch chủCó nhiều loại phẫu thuật thay van động mạch chủ

  • Thay van động mạch chủ đồng loài: được dùng rộng rãi ở các bệnh nhân trẻ tuổi do đặc điểm huyết động tốt và không cần dùng thuốc chống đông. Tuy nhiên theo thời gian, các van loại này không hề lớn lên, sẽ bị thoái hoá, vôi và gây hở. Bản thân kỹ thuật thay van loại này cũng khá phức tạp vì thường phối hợp với việc tạo hình một phần gốc động mạch chủ và cắm lại động mạch vành, cho dù vẫn đơn giản hơn so với phẫu thuật Ross. Tuổi thọ trung bình của van là 15 năm. Phẫu thuật này có tỷ lệ nhiễm trùng rất ít khi đang có viêm nội tâm mạc và đây là thay van đồng loài được chỉ định khi viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn trên van nhân tạo.
  • Thay van sinh học (dị loài): thường được chỉ định cho bệnh nhân tuổi > 70. Trong vòng 10 năm, 80-90% van thoái hoá gây hở hoặc hẹp do thủng lá van, giảm vận động, rò quanh chân van. Không cần dùng chống đông lâu dài sau thay van vì nguy cơ huyết khối thấp. Phần lớn đều có chênh áp qua van ngay sau mổ (vì bị vòng van, khung đỡ cản trở một phần), ở mức độ nhiều hơn so với van cơ học vì thế khi thay, cần chọn loại van có kích thước lớn nhất có thể được để giảm bớt chênh áp qua van.
  • Thay van cơ học: các loại van thường dùng là St. Jude Medical, Metronic-Hall và Carbomedics. Bệnh nhân sau thay van loại này phải uống thuốc chống đông để giảm nguy cơ tạo huyết khối ở van và các biến chứng tắc mạch khác. Độ bền của loại van này là cao nhất nếu duy trì được điều trị chống đông và dự phòng kháng sinh cẩn thận trong nhiều năm.

Biến chứng

Những biến chứng tiềm tàng sau mổ thay van động mạch chủhư hỏng cấu trúc van, rối loạn hoạt động (huyết động) van, huyết khối kẹt van, tắc mạch, chảy máu do dùng thuốc chống đông, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn van động mạch chủ nhân tạo, huyết tán và block nhĩ thất. Phải dùng thuốc chống đông cẩn thận (đối với bệnh nhân nào có chỉ định) và phải dùng kéo dài suốt thời gian tồn tại van nhân tạo (đến cả đời). Bệnh nhân hoạt động thể lực mức độ thấp sẽ ít ảnh hưởng hơn đến huyết động của van và do đó tốc độ thoái hoá van cũng sẽ chậm hơn.

Xem thêm: Bệnh hẹp eo động mạch chủ gây tăng huyết áp

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close