Sống khoẻ

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là bệnh gì? Có điều trị được không?

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là một trong những nguyên nhân gây vô sinh hiếm muộn ở nam giới, chiếm tỉ lệ tới 10-15% nam giới sau tuổi dậy thì. Để tự chăm sóc sức khoẻ cho bản thân mình, trang bị kiến thức về căn bệnh này là rất cần thiết.

1. Giãn tĩnh mạch thừng tinh là gì?

Thừng tinh là một ống đi từ mỗi tinh hoàn lên phần dưới ổ bụng, trong thừng tinh chứa các ống dẫn tinh, các mạch máu, mạch bạch huyết và dây thần kinh.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh là khi các tĩnh mạch nằm trong thừng tinh bị giãn nở, trở nên lớn hơn và có thể nhận thấy bằng mắt thường. Giãn mạch thừng tinh có thể xảy ra ở một bên hoặc cả hai bên tinh hoàn, tuy nhiên giãn tĩnh mạch thừng tinh bên trái thường gặp hơn.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể dẫn đến vô sinhGiãn tĩnh mạch thừng tinh có thể dẫn đến vô sinh

Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thừng tinh là do các van của các tĩnh mạch nhỏ trong bìu hoạt động không tốt. Đây là các van một chiều, mở ra cho máu chảy về tim và đóng lại khi dòng máu chảy chậm để ngăn không cho máu chảy ngược về. Khi có sự suy yếu hệ thống các van tĩnh mạch, thì máu có thể chảy ngược về do tác động của trọng lực gây ứ đọng và giãn tĩnh mạch thừng tinh.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể gặp khi xuất hiện một sự tắc nghẽn tĩnh mạch lớn ở vùng bụng, như một khối u của thận phát triển gây tăng áp lực lên các tĩnh mạch nhỏ hơn trong bìu gây giãn tĩnh mạch, tuy nhiên trường hợp này hiếm gặp và thường chỉ gặp ở nam giới hơn 40 tuổi.

2. Nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thừng tinh

Hiện nay, nguyên nhân gây giãn tĩnh mạch thừng tinh còn chưa được xác định rõ. Một số chuyên gia tin rằng sự suy yếu của các van trong tĩnh mạch gây nên tình trạng trên. Bình thường, các van này giúp máu lưu thông theo một chiều và không bị ứ đọng lại trong mạch máu. Khi van tĩnh mạch tinh suy, dòng máu sẽ bị giữ lại lâu ngày gây giãn mạch. Điều này có thể làm tổn thương tinh hoàn và dẫn đến hiếm muộn.

Hiện nay vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân của giãn tĩnh mạch thừng tinhHiện nay vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân của giãn tĩnh mạch thừng tinh

Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể bắt đầu từ lúc dậy thì. Thường xuất hiện ở bên trái do tĩnh mạch tinh hoàn trái dài hơn dễ ứ đọng máu hơn. Ngoài ra còn do vị trí giải phẫu đặc biệt giữa tĩnh mạch tinh trái so với tĩnh mạch thận trái- nơi nó đưa máu về có góc nghiêng đặc biệt và thiếu van chống phụt ngược máu.

3. Triệu chứng của giãn tĩnh mạch thừng tinh

Bệnh lý này không phải lúc nào cũng gây triệu chứng. Tuy nhiên, một số loại dấu hiệu có thể có nếu mắc bệnh gồm:

  • Đau vùng bìu: có thể đau nhiều khi bạn đứng dậy và giảm khi nằm nghỉ. Trường hợp nặng có thể đau liên tục kể cả khi nằm.
  • Cảm giác như thể tinh hoàn một bên nặng hơn bên còn lại, triệu chứng sẽ tăng lên dần trong ngày.
  • Sưng tấy một bên tinh hoàn.

Triệu chứng đau và sưng tấy 1 bên tinh hoànTriệu chứng đau và sưng tấy 1 bên tinh hoàn

  • Các tinh hoàn có vẻ khác nhau về kích thước. Khi bệnh tiến triển có thể thấy hình ảnh giống “búi giun”.
  • Vô sinh: Giãn tĩnh mạch giai đoạn sớm thường không có triệu chứng. Đa số các bệnh nhân vô tình phát hiện bệnh khi đi khám hiếm muộn. Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh nhân giãn tĩnh mạch thừng tinh đều bị vô sinh.

4. Phân loại giãn tĩnh mạch thừng tinh

Phân loại theo Dubin (1970) giãn tĩnh mạch thừng tinh được chia làm 5 mức độ theo thăm khám lâm sàng như sau:

  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 0: Không phát hiện được trên lâm sàng, chỉ chẩn đoán qua các phương tiện chẩn đoán hình ảnh như siêu âm, chụp mạch máu,…
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 1: Khi thực hiện nghiệm pháp Valsava thì sờ thấy búi tĩnh mạch thừng tinh giãn.
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 2: Khi người bệnh trong tư thế thẳng đứng sờ thấy búi tĩnh mạch.
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 3: Khi người bệnh thẳng đứng, nhìn thấy búi tĩnh mạch giãn.
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 4: Dù người bệnh đứng hay nằm cũng dễ dàng nhìn thấy búi.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh được phân chia thành 5 mức độ khác nhauGiãn tĩnh mạch thừng tinh được phân chia thành 5 mức độ khác nhau

Khi thăm khám qua siêu âm, bệnh nhân được chẩn đoán là giãn mạch thừng tinh khi đường kính tĩnh mạch tinh > 2.5mm, trong các trường hợp kín đáo thì thường phối hợp với nghiệm pháp Valsalva để đánh giá. Giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 3 là trường hợp thường gặp trên lâm sàng, khi các tĩnh mạch đã nổi rõ dưới vùng da bìu và bệnh nhân thường có triệu chứng đau tinh hoàn.

5. Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể chữa khỏi được không?

Giãn tĩnh mạch thừng tinh không thể tự khỏi được do tĩnh mạch đã giãn ra thì không thể tự phục hồi. Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể là nguyên nhân gây vô sinh do các nguyên nhân sau:

  • Máu ứ đọng lại trong các tĩnh mạch gây tăng nhiệt độ trong bìu, làm giảm số lượng và chất lượng tinh trùng từ đó làm giảm khả năng sinh sản.
  • Nếu giãn tĩnh mạch thừng tinh xảy ra ở độ tuổi thiếu niên, thì tinh hoàn ở bên tĩnh mạch thừng tinh bị giãn thường phát triển kém hơn bình thường. Tinh hoàn nhỏ có thể góp phần tăng nguy cơ vô sinh.

Tuy nhiên, phần lớn nam giới bị giãn mạch thừng tinh không bị vô sinh, trên thực tế nhiều nam giới giãn tĩnh mạch thừng tinh độ 3 vẫn có nhiều con và có tới 85% nam giới trưởng thành bị giãn mạch thừng tinh nhưng không liên quan đến vấn đề vô sinh. Nếu giãn mạch thừng tinh không gây ra các triệu chứng như đau tinh hoàn, teo nhỏ tinh hoàn hoặc các vấn đề về sinh sản thì không nên điều trị. Theo các khuyến cáo hiện nay, giãn mạch thừng tinh chỉ nên điều trị khi:

  • Khi thăm khám thấy rõ các búi giãn tĩnh mạch thừng tinh.
  • Khi làm tinh dịch đồ thấy số lượng tinh trùng thấp, bệnh nhân đã vô sinh trên hai năm.
  • Vô sinh nhưng không giải thích được.

Trong các trường hợp bệnh được chỉ định điều trị, tùy theo mức độ của bệnh, các trường hợp nhẹ có thể điều trị nội khoa, các trường hợp nặng hơn thường được chỉ định phẫu thuật. Có nhiều phương pháp phẫu thuật thắt tĩnh mạch thừng tinh như: phẫu thuật thông thường, phẫu thuật qua nội soi ổ bụng, phẫu thuật vi phẫu, làm tắc các mạch bằng bóng hay vòng xoắn… trong đó phẫu thuật vi phẫu (hình thức mổ bằng kính hiển vi) được áp dụng phổ biến, do an toàn, hiệu quả cao, ít biến chứng.

Giãn tĩnh mạch thừng tinh có thể chữa khỏiGiãn tĩnh mạch thừng tinh có thể chữa khỏi

Sau mổ giãn tĩnh mạch thừng tinh, mật độ tinh trùng của bệnh nhân được cải thiện rõ rệt. Theo các nghiên cứu, từ 21-55% bệnh nhân không có tinh trùng trước mổ thì sau phẫu thuật sẽ có tinh trùng trong tinh dịch, khoảng 21% bệnh nhân sau mổ giãn mạch thừng tinh có thể sinh con tự nhiên mà không cần các biện pháp hỗ trợ sinh sản.

Giãn mạch thừng tinh là có thể chữa khỏi, tuy nhiên sau khi điều trị thành công bệnh nhân có thể tái phát bệnh sau một vài tháng hoặc một vài năm. Để tránh nguy cơ tái phát bệnh, bệnh nhân nên lưu ý một số điểm sau đây:

  • Tuân thủ các chỉ định của bác sĩ, khi có các dấu hiệu bất thường phải đi khám để điều trị kịp thời, tái khám đúng hẹn.
  • Tránh các hoạt động thể lực quá mạnh, đặc biệt tránh các động tác gây áp lực cho vùng bìu.
  • Tránh việc đứng hoặc ngồi quá lâu, hạn chế tắm nước nóng quá lâu để tránh tăng nhiệt độ vùng bìu.

6. Các biện pháp chẩn đoán và điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh

6.1. Các phương pháp chẩn đoán

Giãn tĩnh mạch thừng tinh được chẩn đoán chủ yếu dựa vào khám lâm sàngsiêu âm tinh hoàn.

Ngoài triệu chứng đau tinh hoàn hoặc suy giảm khả năng sinh sản mà bệnh nhân gặp phải, việc thăm khám lâm sàng có thể phát hiện một khối mềm, không đau nằm phía trên tinh hoàn. Nếu các búi tĩnh mạch còn nhỏ, bác sĩ sẽ yêu câu bệnh nhân đứng dậy, hít một hơi thật sâu và nín thở sẽ thấy búi tĩnh mạch hiện ra rõ hơn (nghiệm pháp Valsalva).

Chẩn đoán giãn tĩnh mạch thừng tinh bằng siêu ân tinh hoànChẩn đoán giãn tĩnh mạch thừng tinh bằng siêu ân tinh hoàn

Siêu âm tinh hoàn cung cấp hình ảnh chính xác về các cấu trúc bên trong. Siêu âm tinh hoàn còn giúp loại trừ các nguyên nhân khác gây ra giãn tĩnh mạch thừng tinh như khối u chèn ép tĩnh mạch tinh.

6.2. Điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh

Giãn tĩnh mạch thừng tinh không những không thể tự khỏi mà còn gây ra nhiều biến chứng, nguy hiểm nhất là vô sinh nếu không được điều trị kịp thời.

Điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh được thực hiện chủ yếu bằng các phương pháp can thiệp ngoại khoa. Phẫu thuật thắt tĩnh mạch tinh qua nội soi ổ bụng hoặc mổ mở là phương pháp kinh điển. Bệnh không cần điều trị khi không có triệu chứng. Phẫu thuật chỉ được chỉ định cho các trường hợp giãn tĩnh mạch thừng tinh điển hình có triệu chứng như đau tức hai tinh hoàn kéo dài, ảnh hưởng đến sinh hoạt của người bệnh vì phẫu thuật mang lại nhiều biến chứng như:

  • Tràn dịch màng tinh hoàn.
  • Giãn tĩnh mạch thừng tinh tái phát.
  • Nhiễm trùng.
  • Phá hủy động mạch lân cận.

Có nhiều phương pháp phẫu thuật giãn tĩnh mạch thừng tinhCó nhiều phương pháp phẫu thuật giãn tĩnh mạch thừng tinh

Các phương pháp phẫu thuật cho giãn tĩnh mạch thừng tinh

  • Mổ hở: Phương pháp này thường áp dụng cho bệnh nhân ngoại trú, có thể thực hiện khi gây mê hoặc gây tê tại chỗ. Bác sĩ sẽ mở một đường vào tại bìu hoặc vùng bẹn và đến sửa chữa các mạch máu giãn. Bạn có thể quay trở lại hoạt động và làm việc ngay sau 2 ngày. Và có thể vận động cường độ mạnh hay chơi thể thao sau 2 tuần.
  • Nội soi ổ bụng: bác sĩ sẽ mở một đường vào nhỏ ở vùng bụng và đưa dụng cụ nhỏ qua đường vào để quan sát và sửa chữa tĩnh mạch thừng tinh. Thủ thuật này được thực hiện qua gây mê.
  • Thuyên tắc mạch qua da: Bác sĩ đưa một chiếc ống nhỏ vào tĩnh mạch vùng bẹn hay vùng cổ. Sau khi đến được vùng mạch bị giãn, dưới quan sát bằng siêu âm, bác sĩ sẽ đóng các mạch máu lại để ngăn dòng chảy và sửa chữa giãn tĩnh mạch thừng tinh. Phương pháp này không phổ biến bằng phẫu thuật.

Xem thêm: Giãn tĩnh mạch thực quản: nguyên nhân, triệu chứng và cách điều trị

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close