Sống khoẻ

Động mạch thận và các bệnh lý thường gặp!

Động mạch thận có vai trò rất quan trọng, giúp cung cấp máu cho các hoạt động của thận. Các bệnh động mạch thận làm ảnh hưởng đến hoạt động, chức năng của động mạch thận, đe dọa nghiêm trọng sức khỏe người bệnh.

1. Tổng quan về bệnh lý động mạch thận

Bệnh lý động mạch thận bao gồm các tổn thương ảnh hưởng đến động mạch thận, có thể ở động mạch thận cỡ lớn, cũng có thể ở mức độ cỡ vừa và nhỏ. Bệnh có thể là nguyên phát (tổn thương bẩm sinh) hoặc thứ phát sau một rối loạn khác. Diễn tiến của bệnh động mạch thận có thể cấp tính hoặc mạn tính. Biểu hiện chủ yếu trên lâm sàng của bệnh lý động mạch thận là tăng huyết áp. Chẩn đoán xác định vẫn còn phải dựa vào các xét nghiệm cận lâm sàng, nhất là chụp động mạch thận.

Những tổn thương ảnh hưởng đến động mạch thận gây ra các bệnh lý động mạch thậnNhững tổn thương ảnh hưởng đến động mạch thận gây ra các bệnh lý động mạch thận

Tăng huyết áp do bệnh lý ở động mạch thận là loại tăng huyết áp thứ phát. Tỷ lệ mắc bệnh này vẫn còn khó xác định bởi vì không phải tất cả những bệnh lý có thương tổn ở động mạch thận đều gây nên tăng huyết áp. Trong quần thể tăng huyết áp không chọn lọc, nguyên nhân do bệnh lý động mạch thận chỉ chiếm dưới 1%.

2. Phân loại bệnh lý động mạch thận

Bệnh động mạch thận có thể được phân loại theo nguyên nhân, theo diễn tiến bệnh hoặc theo vị trí tổn thương tại động mạch thận. Dưới đây đề cập đến hai cách phân loại thường dùng là phân theo nguyên nhânphân theo diễn tiến của bệnh.

2.1. Phân loại theo nguyên nhân

Dựa theo nguyên nhân, bệnh lý động mạch thận được chia làm 2 loại:

Các bệnh lý bẩm sinh về động mạch thận

Thường gặp ở người trẻ tuổi, bao gồm:

  • Teo động mạch thận bẩm sinh.
  • Phình động mạch thận.
  • Thông động – tĩnh mạch thận.
  • Sa thận và sa cuống thận.
  • Hẹp động mạch chủ trên chỗ xuất phát động mạch thận.

Các bệnh lý tổn thương động mạch thận thứ phát

  • Xơ vữa động mạch thận.
  • Loạn sản xơ hoá lớp cơ động mạch thận.
  • Tắc động mạch thận.
  • Bệnh Takayashu.

Bệnh lý động mạch thận thường được phân loại theo nguyên nhân và diễn tiến của bệnhBệnh lý động mạch thận thường được phân loại theo nguyên nhân và diễn tiến của bệnh

2.2. Phân loại theo diễn biến của bệnh

Dựa vào diễn tiến, bệnh lý động mạch thận được chia làm hai loại nhanh (cấp tính) hoặc chậm (mạn tính), chú ý rằng một số nguyên nhân có thể có diễn tiến cấp hoặc mạn tính tuỳ thuộc từng bối cảnh (ví dụ: tắc mạch do tinh thể cholestérol).

Những bệnh lý động mạch thận cấp hoặc diển tiến nhanh

  • Những bệnh vi mạch huyết khối (mao mạch cầu thận và tiểu động mạch).
  • Xơ hoá mạch máu thận ác tính (mạch máu trong thận của tất cả cỡ).
  • Thuyên tắc do tinh thể cholestérol (động mạch trong thận của cỡ nhỏ).
  • Viêm quanh động mạch dạng nốt đại thể (động mạch cỡ trung bình).
  • Cơn xơ cứng bì cấp (mạch máu trong thận của tất cả cỡ).

Những bệnh lý động mạch thận diễn tiến theo kiểu mạn tính

  • Hẹp động mạch thận.
  • Thuyên tắc do tinh thể cholestérol.
  • Xơ hoá mạch máu thận lành tính.
  • Hội chứng kháng phospholipid.
  • Thải ghép mạn của ghép thận.

3. Các bệnh lý thường gặp ở động mạch thận

3.1. Hẹp động mạch thận

Hẹp động mạch thận là tình trạng thu hẹp một hoặc hai bên động mạch thận. Ở người cao tuổi, nguyên nhân hẹp động mạch thận thường do xơ vữa động mạch. Các mảng xơ vữa được tạo bởi cholesterolchất béocanxi và các chất khác tích tụ bám trên thành động mạch làm động mạch cứng và hẹp dần. Ở người trẻ tuổi, hẹp động mạch lại thường do hội chứng loạn sản sợi cơ. Đây là hội chứng làm cơ ở động mạch thận phát triển bất thường, động mạch thận sẽ có những đoạn hẹp lại và những đoạn phình ra.

Hẹp động mạch thận do xơ vữaHẹp động mạch thận do xơ vữa

Hầu hết bệnh nhân hẹp động mạch thận không có triệu chứng rõ rệt cho đến khi bệnh tiến triển đến mức độ nặng. Bệnh thường được phát hiện tình cờ khi bệnh nhân thực hiện các kỹ thuật cận lâm sàng kiểm tra thận cho một bệnh lý khác. Các triệu chứng có thể do hẹp động mạch thận gây ra bao gồm: tăng huyết áp đột ngột, chức năng thận giảm sút khi điều trị tăng huyết áp, mắc bệnh tăng huyết áp trước 30 tuổi hoặc sau 55 tuổi, mức độ protein niệu cao, suy tim,…

Bệnh nhân hẹp động mạch thận sẽ có nguy cơ gặp các biến chứng do thận bị suy giảm chức năng, tình trạng xơ vữa trong động mạch thận cũng sẽ gây ra các nguy cơ như xơ vữa trong các mạch máu khác như làm tắc nghẽn mạch máu ngoại biên, đột quỵ nãonhồi máu cơ tim,…

Hẹp động mạch thận được điều trị bằng cách thay đổi lối sống, tăng cường vận động, lựa chọn thực phẩm tốt cho sức khỏe, bỏ rượu bia, thuốc lá. Kết hợp sử dụng các thuốc điều trị huyết áp, giảm lipid máu, thuốc chống kết tập tiểu cầu. Phẫu thuật nong mạch vành có thể được sử dụng để cải thiện sự lưu thông máu.

3.2. Phình động mạch thận

Phình động mạch thận là tình trạng thành động mạch thận bị giãn không hồi phục với đường kính lớn hơn 50% so với đường kính bình thường. Có nhiều nguyên nhân gây phình động mạch như:

  • Do các tổn thương thoái hóa như bệnh xơ cứng động mạch, bệnh loạn sản tổ chức xơ,…
  • Do cơ chế cơ học: phình động mạch thận sau sang chấn, phình động mạch thận sau phẫu thuật nối thông mạch máu, ghép động mạch nhân tạo,…
  • Do quá trình viêm nhiễm: phình động mạch có thể gặp do vi khuẩn giang mai, vi khuẩn thường, vi-rút,…

Động mạch bị phìnhĐộng mạch bị phình

Phình động mạch thận cũng như phình động mạch nói chung nếu không được điều trị thì luôn có xu hướng to lên và có thể dẫn tới các biến chứng như: chèn ép các cơ quan xung quanh, nhiễm khuẩn, vỡ túi phình,… Đối với phình động mạch thận, vỡ túi phình vào ổ bụng hay sau khoang phúc mạc là tai biến nguy hiểm nhất, bệnh nhân sẽ bị chảy máu ồ ạt, nguy cơ tử vong cao. Dù có được phẫu thuật kịp thời thì tỷ lệ tử vong vẫn lên đến 30-70%.

Bệnh nhân phình động mạch thận cần được theo dõi chặt chẽ, khi kích thước túi phình động mạch to lên thì phải được theo dõi sát hơn. Phình động mạch thận sẽ được chỉ định mổ khi:

  • Đường kính túi phồng ≥ 5 cm hoặc đường kính tăng hơn 0.5 cm/năm
  • Phình động mạch thận có biểu hiện lâm sàng
  • Phình động mạch hình túi vì có nguy cơ cao gây bội nhiễm và vỡ đột ngột.

3.3. Xơ hóa mạch máu thận

Xơ hóa mạch máu thận là thuật ngữ dùng để chỉ các tổn thương mạch máu thận do tăng huyết áp. Bệnh được chia thành hai thể là lành tính và ác tính. Trong đó, xơ hóa mạch máu thận lành tính xảy ra ở bệnh nhân tăng huyết áp trong thời gian dài nhưng không diễn biến thành tăng huyết áp ác tính. Xơ hóa mạch máu thận ác tính gây ra bởi tăng huyết áp ác tính, huyết áp bệnh nhân đột ngột tăng rất cao, kèm theo các triệu chứng cấp tính ở đáy mắt, não, tim, suy thận cấp, phình bóc tách động mạch chủ.

Ở xơ hóa mạch máu thận lành tính, thận bệnh nhân giảm kích thước, trên bề mặt thận có nhiều hạn mịn giống hình ảnh da sần, vỏ thận mỏng. Nguyên nhân gây bệnh do các tiểu động mạch bị lắng đọng chất hyalin, dày lên gây hẹp lòng mạch làm thiếu máu nuôi thận. Ở giai đoạn sau của bệnh, các búi mạch cầu thận cũng bị tắc nghẽn do lắng đọng chất hyalin. Thiếu máu nuôi thận làm các ống thận bị teo, mô kẽ bị xơ hóa và có thể ngấm tế bào viêm.

Xơ hóa mạch máu thận lành tính hiếm khi dẫn đến suy thận. Xơ hóa mạch máu thận lành tính không có điều trị đặc hiệu, bệnh nhân cần được điều trị tăng huyết áp theo phác đồ kết hợp nhiều thuốc, trong đó phải có thuốc ức chế men chuyển để tăng cường bảo vệ thận. Ngoài ra, bệnh nhân cần sửa chữa những yếu tố nguy cơ tim mạch.

Xơ hoá mạch máu thận có thể dẫn đến suy thậnXơ hoá mạch máu thận có thể dẫn đến suy thận

Xơ hóa mạch máu thận ác tính, kích thước thận bệnh nhân bình thường hoặc chỉ hơi nhỏ đi, trên bề mặt thận có các chấm xuất huyết lốm đốm đỏ. Nguyên nhân do các tiểu động mạch bị lắng đọng chất dạng fibrin và thấm các tế bào viêm cấp tính gây hoại tử thành mạch. Có thể có huyết khối trong lòng cầu thận hoặc trong các tiểu động mạch bị hoại tử. Trên lâm sàng, bệnh nhân có triệu chứng hoa mắt, nhức đầu, buồn nôn và nôn, nhìn mờ, tiểu máu và tiểu đạm, bệnh nhân có thể tử vong do urê máu tăng, xuất huyết não hoặc suy tim.

Điều trị xơ hóa mạch máu thận ác tính là một điều trị cấp cứu, cần được thực hiện nhanh chóng và khẩn trương. Bệnh nhân cần được kiểm soát huyết áp bằng các thuốc hạ huyết áp tiêm tĩnh mạch, sau khi huyết áp ổn định có thể dùng thuốc ức chế men chuyển đường uống. Thể tích máu được kiểm soát chặt chẽ, nếu thể tích máu giảm bệnh nhân sẽ được điều chỉnh nhanh bằng dung dịch nước muối sinh lý. Chỉ định lọc máu nếu cần thiết.

3.4. Xơ vữa động mạch thận

Xơ vữa động mạch thận thường gặp ở bệnh nhân sau 45 tuổi, đây là nguyên nhân thường gặp nhất của tăng huyết áp do các bệnh lý mạch thận. Xơ vữa gây hẹp động mạch thận thường xuất hiện ở đoạn 1/3 đầu động mạch thận.

Xơ vữa động mạch thận và xơ vữa động mạch nói chung có tính chất từ từ, xảy ra trong thời gian dài, bệnh xuất hiện âm thầm nhưng rất nguy hiểm. 50% các trường hợp xơ vữa động mạch thận sẽ dẫn đến hẹp động mạch thận, trong đó khoảng 20% là tắc nghẽn động mạch thận hoàn toàn, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng thận. Nếu mảng xơ vữa bong ra theo dòng máu đi đến mạch vành làm tắc nghẽn mạch máu gây đột quỵ, nhũn não, nhồi máu cơ tim,… đe dọa tính mạng người bệnh.

Xơ vữa động mạchXơ vữa động mạch

Bệnh nhân xơ vữa động mạch thận cần có chế độ ăn và luyện tập thể lực hợp lý, hạn chế ăn mỡ động vật, ngũ tạng động vật, trứng, không hút thuốc lá, hạn chế rượu bia,… Tái khám theo định kỳ, tuân thủ điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ.

4. Những biện pháp điều trị áp dụng trong bệnh động mạch thận

Điều trị lý tưởng là chữa lành tăng huyết áp động mạch bằng cách sữa chữa những thương tổn động mạch gây ra từ thiếu máu thận. Sự điều chỉnh, sữa chữa này có thể thực hiện bởi can thiệp phẫu thuật hoặc bởi chỉnh hình mạch máu qua da (nong động mạch qua da). Điều trị thuốc hiện nay có thể bình thường hoá được huyết áp nhưng thuốc không tác động lên được nguyên nhân của bệnh lý động mạch thận.

4.1. Điều trị bằng thuốc

Thường sử dụng thuốc ức chế men chuyển, kết hợp với thuốc lợi tiểu, thuốc chẹn bêta, các thuốc ức chế canxi đôi khi cũng được dùng.

Điều trị bằng thuốcĐiều trị bằng thuốc

Tăng huyết áp thường được kiểm soát tốt bằng việc phối hợp thuốc trong đa số các trường hợp. Chú ý rằng việc dùng thuốc, đặc biệt là thuốc hạ huyết áp nhóm ức chế men chuyển có thể làm mất tính tự điều hoà của thận, làm giảm lọc cầu thận, cho nên cần phải kiểm tra chức năng thận một cách đều đặn khi dùng nhóm thuốc này. Trong trường hợp hẹp động mạch thận 2 bên thì nhóm thuốc ức chế men chuyển bị chống chỉ định.

4.2. Điều trị phẫu thuật

Với mục đích loại trừ tổn thương động mạch hoặc những hậu quả thiếu máu. Có thể can thiệp bằng cách bóc tách lớp nội mạc, bắt cầu nối động mạch hoặc cắt trực tiếp đoạn tổn thương tuỳ theo vị trí, mức độ tổn thương cũng như tình trạng suy thận để quyết định lựa chọn phương pháp.

4.3. Điều trị chỉnh hình mạch máu qua da

Cho phép làm giãn chỗ động mạch bị hẹp. Đã được sử dụng gần 20 năm nay, ngày càng được áp dụng rộng rãi. Ưu điểm của phương pháp này là thủ thuật nhẹ nhàng, thời gian hậu phẫu ngắn, kết quả rất tốt.

Việc lựa chọn biện pháp điều trị nào thích hợp cho người bệnh cần nhắc đến độ tuổi của người bệnh, độ trầm trọng và vị trí của chỗ tắc, xơ vữa động mạch ở những nơi khác và hậu quả ảnh hưởng của tình trạng xơ vữa lên các tạng.

Trong trường hợp loạn sản mạch máu thận, thường gặp ở người trẻ, chỉnh hình mạch máu hoặc phẫu thuật là các phương pháp được chọn lựa vì thường cho kết quả tốt, cho phép chữa lành tăng huyết áp.

Trong những trường hợp xơ vữa động mạch, phẫu thuật hoặc chỉnh hình mạch máu cần phải cân nhắc kỹ vì những biến chứng, nhất là giảm chức năng thận đã có, việc đánh giá chức năng thận còn lại là yếu tố quyết định cho chọn lựa biện pháp điều trị.

Đặt stent trong điều trị hẹp động mạch thậnĐặt stent trong điều trị hẹp động mạch thận

4.4. Điều trị cụ thể của từng nguyên nhân

Những bệnh vi mạch huyết khối

  • Điều trị nguyên nhân.
  • Dùng huyết tương tươi trong lúc lọc huyết tương.
  • Liệu pháp corticoid liều cao.
  • Tiên lượng sống phụ thuộc vào nguyên nhân, tỷ lệ tử vong khoảng 30 – 40%.

Xơ hoá mạch máu thận ác tính

Đây là một điều trị cấp cứu. Mục đích:

  • Kiểm soát huyết áp: điều trị thường sử dụng.
  • Nicardipin tĩnh mạch (Loxen) 1 – 10mg/ giờ.
  • Labetalol tĩnh mạch (Trandate) 0.5 – 1 mg/ phút.
  • Và ức chế men chuyển bằng đường uống sau khi đã bình thường hoá thể tích.
  • Kiểm soát thể tích máu: đánh giá thể tích máu là cần thiết:
  • Trong trường hợp giảm thể tích máu: điều chỉnh nhanh bằng dung dịch nước muối sinh lý. Chống chỉ định dùng các thuốc tiểu.
  • Trong suy thất trái, nên sử dụng thuốc lợi tiểu quai.
  • Thông thường trong tháng đầu tiên chức năng thận bị hư hỏng (nặng lên do giảm tưới máu) và đôi khi cần lọc máu. Về sau chức năng thận cải thiện dần và có thể trở lại bình thường nếu huyết áp được chế ngự tốt (<130/80 mmHg).

Thuyên tắc do tinh thể cholestérol

  • Điều trị triệu chứng là chính (ngừng chống đông, kiểm soát huyết áp, lọc máu).
  • Liệu pháp corticoid thườngđược sử dụng, nó làm gia tăng thời gian sống.
  • Tiên lượng nói chung là xấu: Tử vong trên 40% sau 6 tháng.

Viêm quanh động mạch dạng nút

Viêm quanh động mạch dạng nút không gắn liền với viêm gan virút: điều trị bằng corticoid đôi khi cần cyclophoshamid hoặc Azathioprine trong những thể nặng.

Trong trường hợp có liên quan với viêm gan virút B: điều trị kháng virut (Lamivudine) kết hợp với corticoid.

Xơ cứng bì

  • Gây thương tổn thận cấp: Tăng huyết áp ác tính với hội chứng tán huyết và tăng urê máu.
  • Điều trị cấp cứu với hạ huyết áp đặc biệt là ức chế men chuyển.

Hẹp động mạch thận

  • Hẹp do loạn sản sợi xơ: chỉnh hình mạch máu thận qua da là được chọn lựa. Cho phép chữa lành huyết áp trong 70 – 90% trường hợp. Hẹp trở lại là hiếm.
  • Hẹp do xơ vữa: có 2 mục đích điều trị là: kiểm soát huyết áp và bảo tồn chức năng thận Sửa chữa lại động mạch thận bằng chỉnh hình hoặc phẫu thuật được chỉ định khi:
  • Thận kích thước > 8 cm ở phía có hẹp động mạch.
  • Tăng huyết áp nặng, đề kháng điều trị, với phù phổi, suy thận.
  • Hẹp trên 75% lòng động mạch thận.
  • Hẹp 2 bên hoặc 1 bên trên 1 thận độc nhất.

Xơ hoá mạch máu thận lành tính

Không có điều trị đặc hiệu, điều trị bao gồm:

  • Điều trị tăng huyết áp: Cần thiết kết hợp 2 thuốc, trong đó có một ức chế men chuyển (bảovệ thận).
  • Sửa chữa những yếu tố nguy cơ tim mạch.
  • Làm chậm tiến triển suy thận mạn: chú ý rằng điều trị tốt tăng huyết áp và thiếu máu (nếu có) là hai yếu tố chính giúp cho bệnh nhân giữ được chức năng thận một cách ône định trong thời gian dài.
  • Điều trị những biến chứng của suy thận mạn.

Xem thêm: Khối huyết tĩnh mạch sâu là bệnh gì? Có nguy hiểm không?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close