Sống khoẻ

Dị tật tim bẩm sinh: chuyển vị đại động mạch

Bình thường, động mạch phổi và tâm thất phải thông thương với nhau, động mạch chủ và tâm thất trái nối liền với nhau. Nhưng với bệnh chuyển vị đại động mạch thì khác: động mạch phổi thay vị trí của động mạch chủ ở tâm thất trái. Tương tự, động mạch chủ và tâm thất phải được nối liền nhau. Đây là một bệnh nặng, với tỷ lệ tử vong 30% trong tuần 1 sau khi sinh, 50% tháng 1 đầu và 90% trong năm đầu tiên.

1. Chuyển vị đại động mạch là gì?

Chuyển vị đại động mạch là tình trạng 2 động mạch chính của tim là động mạch chủ và động mạch phổi bị hoán đổi vị trí với nhau.

Chuyển vị đại động mạch là tình trạng hoán đổi vị trí động mạch chủ và động mạch phổi

Tình trạng này làm thay đổi 2 vòng tuần hoàn của cơ thể, làm cho máu từ tim bơm đi nuôi cơ thể bị thiếu oxy. Khi đó cơ thể không thể thực hiện chỉnh chức năng của nó. Hậu quả là trẻ sẽ đối diện với những biến chứng nguy hiểm hoặc có thể gây tử vong nếu không được điều trị. Chuyển vị đại động mạch thường được phát hiện hoặc trong thai kỳ hoặc vài giờ sau khi bé được sinh ra.

2. Nguyên nhân gây ra bệnh chuyển vị đại động mạch là gì?

Hiện nay, chưa rõ nguyên nhân gây ra căn bệnh chuyển vị đại động mạch nhưng có thể tình trạng trên xuất hiện trong suốt sự hình thành bào thai khi tim thai của trẻ bắt đầu hình thành.

Thông thường, động mạch phổi – mang máu từ tim đến phổi để trao đổi oxy – nối với buồng tim dưới bên phải( tâm thất phải).

Từ phổi, máu giàu oxy sẽ đến buồn tim trên bên trái (tâm nhĩ trái), xuyên qua van 2 lá để xuống dưới buồng tim thấp hơn bên trái (tâm thất trái). Lúc này động mạch chủ gắn với tâm thất trái sẽ mang máu này đến toàn bộ cơ thể.

Hiện chưa rõ nguyên nhân gây ra chuyển vị đại động mạchHiện chưa rõ nguyên nhân gây ra chuyển vị đại động mạch

Khi tình trạng bất thường xảy ra ở chuyển vị đại động mạch, vị trí của động mạch chủ và động mạch phổi hoán đổi với nhau.

Động mạch phổi sẽ kết nối với tâm thất trái và động mạch chủ lúc này thì lại kết nối với tâm thất phải.

Khi đó, máu bị thiếu oxy của vòng tuần hoàn nhỏ đi từ tim phải và đến cơ thể mà không qua phổi. Máu giàu oxy của vòng tuần hoàn lớn lại đi từ tim trái lên phổi mà không đến cơ thể để trao đổi khí.

Sự tuần hoàn của máu bị thiếu oxy đi khắp cơ thể gây ra tình trạng xanh tím của da. Chính vì vậy mà chuyển vị đại động mạch được gọi là bệnh tim bẩm sinh.

Mặc dù có nhiều yếu tố, như Rubella hoặc một số bệnh virus khác trong thời kỳ mang thai, đối tượng mang thai độ tuổi trên 40, bệnh tiểu đường của người mẹ, có thể làm tăng nguy cơ mắc bất thường tim này, tuy nhiên hầu hết nguyên nhân thì vẫn chưa được xác định rõ.

3. Triệu chứng chuyển vị đại động mạch

Triệu chứng cơ năng:

  • Triệu chứng cơ năng của suy tim nặng: Khó thở, phù, hồi hộp, nhịp tim bất thường.
  • Người bệnh không có các triệu chứng của suy tim thì thường có biểu hiện tím nặng.
  • Có thể có áp xe não, tai biến mạch máu não.
  • Lỗ bầu dục nhỏ, ống động mạch lớn.

Triệu chứng cơ năng: tai biến mạch máu nãoTriệu chứng cơ năng: tai biến mạch máu não

Triệu chứng thực thể:

  • Huyết áp bình thường, mạch bình thường.
  • Lồng ngực biến dạng.
  • T1 bình thường.
  • T2 đơn độc.
  • Không thấy âm thổi hoặc tiếng thổi tâm thu ( tiếng thổi nghe được do dòng máu đi qua chỗ hẹp).

4. Chẩn đoán cận lâm sàng chuyển vị đại động mạch

4.1. Điện tâm đồ

Ghi lại hoạt động điện của tim, từ đó có thể thấy sự biến đổi bất thường trong cấu trúc của tim. Chẩn đoán thường không đặc hiệu với:

  • Sóng P thường nhọn, cao (biểu hiện dày nhĩ phải). Khi lượng máu lên phổi nhiều mà thông liên nhĩ nhỏ (lỗ botal) thì có biểu hiện dày nhĩ trái. Hay gặp dày thất phải, đôi khi có dày 2 thất.
  • Sóng T thường đảo sâu ở các chuyển đạo ngực phải.

Chẩn đoán cận lâm sàng bằng phương pháp điện tâm đồChẩn đoán cận lâm sàng bằng phương pháp điện tâm đồ

4.2. Chụp X quang

  • Tim có hình trứng nếu lượng máu đến phổi nhiều.
  • Phụ thuộc vào độ hẹp của động mạch phổi, tuần hoàn phổi sẽ tăng hay giảm.
  • Bó đại động mạch thường hẹp do vị trí trước sau của động mạch chủ và động mạch phổi.

Phim chụp có cả 3 hình ảnh: tim hình trứng, tuần hoàn phổi tăng, bó đại động mạch hẹp gợi ý có hoán vị đại động mạch.

4.3. Siêu âm tim

Sử dụng sự biến đổi sóng âm thanh được ghi trên một bộ cảm biến để tạo ra hình ảnh chuyển động của tim và các van tim, từ đó đánh giá được cấu trúc và chức năng của tim.

Đây là tiêu chuẩn giúp các bác sĩ định hướng và điều trị bệnh chuyển vị đại động mạch.

5. Điều trị bệnh chuyển vị đại động mạch như thế nào?

5.1. Trước phẫu thuật

Hiện nay để điều trị căn bệnh trên, bác sĩ có thể áp dụng một số trường hợp để kiểm soát tình trạng trước khi phẫu thuật chỉnh sửa diễn ra. Bao gồm:

– Thuốc:Có nguồn gốc là chất trung gian hóa học thường xuất hiện trong các phản ứng viêm,thuốc này giúp duy trì sự có mặt của ống động mạch kết nối động mạch chủ và động mạch phổi làm tăng độ hòa trộn giữa máu giàu oxy và thiếu oxy để cung cấp tạm thời nhu cầu oxy cho các mô cho đến khi phẫu thuật diễn ra.

Sử dụng thuốc kiểm soát tình trạng bệnh trước phẫu thuậtSử dụng thuốc kiểm soát tình trạng bệnh trước phẫu thuật

– Nong xé lỗ thông 2 tâm nhĩ bằng bóng( thủ thuật Rashkind): Thủ thuật này thường sử dụng phương pháp thông tim hơn là mổ, tác dụng mở rộng lối thông thương giữa 2 tâm nhĩ. Nó cho phép máu giàu oxy và thiếu oxy hòa trộn vào nhau và dẫn tới kết quả là oxy được cung cấp phần nào sẽ cải thiện triệu chứng thiếu oxy ở trẻ.

5.2. Phẫu thuật

Có hai hướng phẫu thuật là phẫu thuật chuyển động mạch và phẫu thuật chuyển tâm nhĩ:

Phẫu thuật chuyển động mạch:

Đây là phẫu thuật phổ biến để điều chỉnh vị trí của các động mạch lớn đưa các động mạch trở về vị trí đúng của nó: động mạch phổi và tâm thất phải thông nhau và động mạch chủ thông thương với tâm thất trái. Phẫu thuật này thường được thực hiện trong tuần đầu tiên sau khi sinh của đứa trẻ.

Biến chứng thường gặp của phương pháp này gồm: suy động mạch vành, thiếu máu cục bộ cơ tim, rối loạn chức năng thất, rối loạn nhịp,…

Phẫu thuật chuyển động mạch hoặc phẫu thuật chuyển tâm nhĩPhẫu thuật chuyển động mạch hoặc phẫu thuật chuyển tâm nhĩ

Phẫu thuật chuyển tâm nhĩ:

Nguyên lý là tạo 1 đường hầm giữa hai buồng tâm nhĩ. Nhờ đó, máu thiếu oxy từ tâm nhĩ phải đến tâm nhĩ trái xuống tâm thất trái và động mạch phổi, máu giàu oxy đến tâm thất phải và động mạch chủ. Áp dụng phương pháp này, sẽ làm tăng gánh thất phải, thất phải sẽ thực hiện chức năng của thất trái và ngược lại thất trái đưa máu đến phổi để thực hiện quá trình trao đổi khí. Thực hiện theo hướng này, có các phương pháp phẫu thuật sau:

  • Phẫu thuật Mustard: Tạo đường dẫn bằng màng bao tim, máu từ tĩnh mạch chủ sẽ về thất trái và động mạch phổi, máu từ tĩnh mạch phổi sẽ về thất phải và động mạch chủ.
  • Phẫu thuật Stenning: Cùng nguyên tắc với phẫu thuật Mustard nhưng dùng vách liên nhĩ để ngăn lại các buồng nhĩ.

Hai phương pháp phẫu thuật trên thường hay gặp biến chứng muộn. Biến chứng thường gặp nhất là biến chứng tắc nghẽn tĩnh mạch chủ trên, tắc nghẽn tĩnh mạch chủ dưới ít gặp hơn, rò rỉ đường nối thông giữa tmp và ổ van ba lá. Bệnh nhân thường bị suy tim phải, hở van 3 lá do tăng gánh thất phải, rối loạn nhịp tim, rối loạn dẫn truyền.

5.3. Sau phẫu thuật

Sau phẫu thuật chỉnh sửa, trẻ cần theo dõi suốt đời với bác sĩ để kiểm tra cho sức khỏe cho trẻ. Bác sĩ tim mạch có thể hướng dẫn cho trẻ tránh một số hoạt động, như nâng vật nặng bởi vì những hoạt động như vậy sẽ làm tăng huyết áp và gây hại cho tim.

Chăm sóc sau phẫu thuậtChăm sóc sau phẫu thuật

Ba hay mẹ của trẻ nên tham khảo với bác sĩ về những hoạt động thể lực trẻ được phép, về tần suất cũng như thời gian cho trẻ hoạt động.

Nhiều trường hợp đã trải qua phẫu thuật chuyển tâm nhĩ thì không cần thêm bất kỳ phẫu thuật nào khác. Tuy nhiên đối với một số biến chứng như loạn nhịp tim, hở van tim hoặc các vấn đề về chức năng bơm máu, có thể đòi hỏi điều trị kết hợp.

Xem thêm: Bệnh thấp tim là bệnh gì? Có biến chứng gì không?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close