Sống khoẻ

Dị dạng động – tĩnh mạch máu não và các phương pháp điều trị

Dị dạng động – tĩnh mạch (AVM) não là một bất thường của các mạch máu kết nối động mạch và tĩnh mạch, gây cản trở dòng chảy của máu và tuần hoàn oxy.

1. Dị dạng động – tĩnh mạch máu não là gì?

Dị dạng động tĩnh mạch (AVM) là có sự nối thông bất thường giữa động mạch và tĩnh mạch, thường do bẩm sinh. Bệnh hay gặp ở hệ thống thần kinh trung ương nhưng cũng có thể gặp ở mọi ví trí trong cơ thể. AVM không mang đặc tính di truyền. Bệnh thường phát hiện được ở nhóm người trẻ tuổi, trung niên (20-40 tuổi).

Dị dạng động - tĩnh mạch máu não là bệnh rất nguy hiểmDị dạng động – tĩnh mạch máu não là bệnh rất nguy hiểm

Tại Mỹ hằng năm có khoảng 300,000 trường hợp AVM trong đó chỉ 12% (xấp xỉ 36,000 trường hợp) có biểu hiện lâm sàng ở mức độ nặng.

Động mạchtĩnh mạch là các thành phần trong hệ thống tuần hoàn. Bình thường, động mạch giàu oxy (trừ động mạch phổi), tĩnh mạch ít O2, giàu CO2. Về mặt cấu trúc, các động mạch chia các nhánh nhỏ dẫn đến mao mạch, máu đi qua các mao mạch nhả oxy và nhận CO2 từ các tế bào xung quanh. Các mao mạch tập hợp lại tạo thành các tĩnh mạch dẫn máu về tim.

Trong AVM có sự thiếu hụt các mao mạch, nên thiếu sự thải CO2 cũng như nhận các chất dinh dưỡng, tạo nên rối loạn mạch máu gọi là ổ dị dạng, ở đó không có mao mạch và máu được lưu thông trực tiếp giữa nơi có áp lực cao là động mạch và nơi có áp lực thấp là tĩnh mạch. Nó có thể vỡ và gây chảy máu; đôi khi nghe thấy tiếng thổi do tốc độ tống máu mạnh, nhanh giữa động-tĩnh mạch. Một số trường hợp bệnh nhân bị dị dạng động tĩnh mạch tại não, họ nghe thấy “tiếng ồn” khi ngủ thậm chí gây nên những rối loạn tâm lý.

AVM có thể gặp ở nhiều vị trí trong cơ thể: não, lách, phổi, thận, tủy sống, gan, khoảng gian sườn, mắt, thừng tinh. AVM tại não được quan tâm nhiều vì khi nó chảy máu có thể gây ra các biến chứng nặng. Chảy máu do AVM tại não hiếm gặp, chỉ dưới 1% những người bị AVM.

AVM có thể đơn độc hoặc kết hợp với bệnh khác như bệnh Von Hippel-Lindau, hẹp động mạch chủ hoặc hội chứng xuất huyết di truyền do giãn mao mạch.

2. Nguyên nhân dị dạng động – tĩnh mạch não

AVM do sự phát triển bất thường của các mạch máu kết nối động mạch và tĩnh mạch, nhưng các chuyên gia không hiểu tại sao điều này xảy ra. Một số thay đổi trong bộ máy di truyền có thể đóng vai trò, nhưng hầu hết thường không được di truyền.

Hầu hết các loại AVM không di truyềnHầu hết các loại AVM không di truyền

Rất hiếm trường hợp, có tiền sử gia đình bị AVM tăng nguy cơ mắc. Nhưng hầu hết các loại AVM không được di truyền.

Một số điều kiện di truyền có thể làm tăng nguy cơ AVM của bạn. Chúng bao gồm giãn mao mạch xuất huyết di truyền (HHT), còn được gọi là hội chứng Osler-Weber-Rendu.

3. Dấu hiệu và triệu chứng

Một dị dạng động tĩnh mạch não có thể không gây ra bất kỳ dấu hiệu hoặc triệu chứng nào cho đến khi nó bị vỡ, dẫn đến chảy máu não (xuất huyết). Khoảng một nửa số người bị dị tật động tĩnh mạch não đề có dấu hiệu đầu tiên là xuất huyết.

Tuy nhiên, một số người có thể gặp các dấu hiệu và triệu chứng khác ngoài chảy máu liên quan.

Ở những người không có xuất huyết, các dấu hiệu và triệu chứng của dị tật động tĩnh mạch não có thể bao gồm:

  • Động kinh.
  • Nhức đầu hoặc đau ở một vùng đầu.
  • Cơ yếu hoặc tê ở một phần cơ thể.

Một số người có thể gặp các dấu hiệu và triệu chứng thần kinh nghiêm trọng hơn, tùy thuộc vào vị trí của dị tật động tĩnh mạch não bao gồm:

  • Đau đầu nặng.
  • Suy yếu hoặc tê liệt.
  • Mất thị lực.
  • Khó nói.
  • Lẫn lộn hoặc không có khả năng hiểu người khác.
  • Mất thăng bằng nghiêm trọng.

AVM gây rối loạn trí nhớAVM gây rối loạn trí nhớ

Các triệu chứng có thể bắt đầu ở mọi lứa tuổi nhưng thường xuất hiện ở độ tuổi từ 10 và 40. Các dị tật động tĩnh mạch não có thể gây tổn hại mô não theo thời gian. Các ảnh hưởng thường phát triển chậm và gây ra các triệu chứng ở tuổi trưởng thành sớm.

Tuy nhiên, khi bạn ở tuổi trung niên, các dị tật động tĩnh mạch não có xu hướng ổn định và ít có khả năng gây ra các triệu chứng.

Dị tật động tĩnh mạch não ở một số phụ nữ mang thai có thể trở nên nghiêm trọng hơn do những thay đổi về lượng máu và huyết áp.

Một loại dị dạng động tĩnh mạch não nghiêm trọng được gọi là khiếm khuyết tĩnh mạch của Galen, gây ra các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện sớm hoặc ngay sau khi sinh. Mạch máu lớn liên quan đến loại bệnh này có thể làm dịch tích tụ trong não và đầu sưng to. Các dấu hiệu và triệu chứng bao gồm các tĩnh mạch bị sưng có thể nhìn thấy trên da đầu, co giật, phát triển kém và suy tim sung huyết.

4. Chẩn đoán và điều trị dị dạng động – tĩnh mạch não

4.1. Chẩn đoán

Để chẩn đoán AVM, bác sĩ sẽ xem xét các triệu chứng của bạn và thực hiện kiểm tra thể chất.

Bác sĩ có thể nghe một âm thanh được gọi là tiếng thổi. Tiếng thổi là một âm thanh gây ra bởi dòng máu chảy rất nhanh qua các động mạch và tĩnh mạch của AVM. Nó nghe giống như tiếng nước chảy qua một ống hẹp. Các tiếng thổi có thể gây cản trở thính giác hoặc giấc ngủ gây ra sự rối loạn về cảm xúc.

Có nhiều phương pháp chẩn đoán cận lâm sàngCó nhiều phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng

Các xét nghiệm thường được sử dụng để giúp chẩn đoán AVM bao gồm:

  • Chụp X-quang mạch máu não. Còn được gọi là chụp X Quang động mạch, xét nghiệm này sử dụng một loại thuốc nhuộm đặc biệt gọi là chất cản quang được tiêm vào động mạch. Thuốc nhuộm làm nổi bật cấu trúc của các mạch máu để hiển thị chúng tốt hơn trên tia X.
  • Chụp cắt lớp vi tính (CT). Quét CT sử dụng tia X để tạo ra hình ảnh của đầu, não hoặc tủy sống và có thể cho thấy chảy máu
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI). MRI sử dụng nam châm và sóng vô tuyến để hiển thị hình ảnh chi tiết của các mô. MRI có thể thu nhận những thay đổi nhỏ trong các mô này.
  • Chụp mạch cộng hưởng từ (MRA). MRA ghi lại mô hình, tốc độ và khoảng cách của dòng máu thông qua các bất thường mạch máu.
  • Siêu âm Doppler xuyên sọ. Loại siêu âm này sử dụng sóng âm thanh tần số cao để tạo ra hình ảnh của dòng máu để giúp chẩn đoán AVM lớn và trung bình, cũng như chảy máu.

4.2. Điều trị

Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật, xạ trị hoặc nút mạch để cắt đứt nguồn cung cấp máu đến ổ dị dạng.

Điều trị ổ dị dạng mạch máu não chủ yếu là phòng chảy máu, chảy máu não do AVM có thể gây nên đột quỵ, tàn tật, tử vong. AVM não cũng có thể gây đau đầu, động kinh và liệt. Điều trị có thể giảm nhẹ các triệu chứng này.

Điều trị AVM tại não tùy thuộc kích thước và vị trí ổ AVM, với các phương pháp điều trị bao gồm:

Nút mạch

Catheter được đưa vào động mạch đùi rồi vào các mạch máu trong não sau đó vào ổ dị dạng, chất lỏng dạng keo được tiêm vào mạch để gây tắc mạch máu đến ổ dị dạng. Tuy nhiên việc nút mạch tùy thuộc vào kích thước mạch máu đến ổ dị dạng, nếu mạch máu quá nhỏ thì không thể thực hiện được. Nút mạch thường kết hợp với các phương pháp điều trị khác như xạ phẫu hoặc phẫu thuật.

Phẫu thuật

Đây là phương pháp cổ điển nhất để điều trị AVM, là phương pháp điều trị có hiệu quả tức thì và vĩnh viễn nếu AVM bị loại bỏ hoàn toàn. Tuy nhiên nguy cơ rủi ro của phẫu thuật cao hơn nút mạch và xạ phẫu nhất là các ổ AVM ở sâu trong não hoặc ở các vị trí có chức năng quan trọng.

Phẫu thuật là phương pháp cổ điển nhất trong điều trị AVMPhẫu thuật là phương pháp cổ điển nhất trong điều trị AVM

Xạ phẫu

Một chùm bức xạ hẹp tập trung liều cao vào các AVM và liều rất thấp đến các tổ chức xung quanh, xạ phẫu được chỉ định trong điều trị AVM tại não. Bức xạ này khiến các AVM teo lại dần dần trong khoảng thời gian vài tháng đến 2 năm. Đây là phương pháp điều trị rất ít biến chứng, an toàn, hiệu quả, nhất là ở các vị trí có chức năng quan trọng trong não. Tuy nhiên trong thời gian đầu sau khi xạ phẫu khi ổ AVM chưa hoại tử hết, vẫn có nguy cơ bị chảy máu não.

Một số trường hợp phải kết hợp cả 3 phương pháp điều trị trên.

Tóm lại, dị dạng động – tĩnh mạch có thể gặp ở nhiều vị trí khác nhau trong cơ thể, nhưng nguy hiểm và được quan tâm nhiều nhất là dị dạng mạch máu não vì nó có thể gây chảy máu não, tàn tật, tử vong.

Điều trị các ổ dị dạng tùy thuộc vào vị trí và kích thước ổ dị dạng, mỗi phương pháp điều trị có những ưu và nhược điểm riêng. Trong đó xạ phẫu là phương pháp hiện nay ngày càng được chỉ định nhiều trong điều trị AVM vì tính an toàn và hiệu quả cao.

Xem thêm: Viêm động mạch nút – tiềm ẩn nhiều mối nguy hiểm khó lường!

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close