Sống khoẻ

Đa u tuỷ xương có nguy hiểm không? Có điều trị được không?

1. Bệnh đa u tuỷ xương là gì?

Đa u tủy xương là bệnh lý ung thư dòng tế bào, dẫn đến những khối u mang tính khu trú hay lan tỏa trong tủy xương của cơ thể con người.

Bệnh đa u tủy xương dẫn đến: tăng các globulin miễn dịch trong máu, tạo thành nhiều ổ tiêu xương dẫn đến gãy xương bệnh lý, rối loạn chức năng nhiều cơ quan: suy thận, thiếu máu, giảm tiểu cầu, bạch cầu, tăng canxi máu, các triệu chứng thần kinh, nhiễm trùng bội nhiễm…

Đa u tuỷ xương là bệnh ung thư tế bào máuĐa u tuỷ xương là bệnh ung thư tế bào máu

Tỉ lệ mắc bệnh khoảng 3 – 4/100.000 dân; 1 – 2% các bệnh ác tính.Tuổi thường gặp: > 40, nam gặp nhiều hơn nữ.

Bệnh nhân mắc đa u tủy xương giai đoạn đầu có thể đau âm ỉ sau đó đau dữ dội liên tục đau vật vã không thể chịu được vì vậy bệnh nhân cần được điều trị hệ thống hóa chất để kiểm soát khối u và điều trị triệu chứng để ngăn ngừa biến chứng, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân.

2. Nguyên nhân

Đa u tủy là ung thư tế bào máu khi các tế bào huyết tương tăng trưởng vượt khả năng kiểm soát của cơ thể tạo ra một khối u trong tủy xương và có thể làm rối loạn chức năng của các bộ phận khác trong cơ thể. Nếu bạn chỉ có một khối u duy nhất, thì đó là u tương bào. Nếu có nhiều hơn một u tương bào, bạn sẽ bị u tủy.

Hiện vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây đa u tuỷ xươngHiện vẫn chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây đa u tuỷ xương

Các nhà khoa học vẫn không biết chính xác nguyên nhân gây ra đa u tủy. Họ nghi ngờ những thay đổi trong DNA có thể làm cho các tế bào huyết tương trở thành ung thư.

3. Triệu chứng của bệnh

Triệu chứng có thể biểu hiện ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào giai đoạn nào của bệnh. Bệnh không chỉ biểu hiện tại chỗ mà có biểu hiện ở nhiều cơ quan khác nhau do tăng tương bào dẫn đến suy giảm chức năng của các cơ quan, cụ thể:

3.1. Biểu hiện tại xương

  • Bệnh thường khởi phát: một vài tuần hoặc vài tháng đầu, bệnh nhân thấy mệt mỏi, suy nhược, gầy sút, kém ăn, đau xương nhẹ ở các xương dẹt như xương sườn, xương cột sống, nhức đầu, đau các khớp.

Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, suy nhược,...Người bệnh cảm thấy mệt mỏi, suy nhược,…

  • Khi ở giai đoạn toàn phát, bệnh nhân toàn thân suy sụp, đau xương, thường đau cột sống thắt lưng, đau vùng xương sọ, xương ức, đau liên tục, thuốc giảm đau không làm dịu được cơn đau, có thể có lách to, gãy xương tự phát.
  • U xương: khoảng 10% bệnh nhân có dấu hiệu này; u mềm không đau nổi trên nền xương, đường kính từ 0,5cm đến 2cm; thường thấy ở các vị trí như xương sọ, xương đòn, xương ức, xương bả vai, cột sống… ít thấy ở các xương chân tay.
  • X-quang: tổn thương cơ bản là mất chất vôi tạo thành các hình khuyết tròn hoặc bầu dục. Tùy theo số lượng và kích thước các ổ khuyết xương người ta mô tả là hình tổ sâu hoặc tổ ong. Tiêu xương một đoạn hay một phần ở xương dài. Khi các hốc xương nhỏ và dày đặc tạo nên hình ảnh loãng xương lan tỏa. Thân các đốt sống biến dạng (lõm, dẹt, hình lưỡi), có thể di lệch gây nên gù vẹo.
  • Chụp cắt lớp vi tính hay cộng hưởng từ để phát hiện tổn thương sớm hơn. Đặc biệt phương pháp chụp xạ hình phóng xạ cho hình ảnh rõ nét rất có giá trị trong chẩn đoán đa u tủy xương giai đoạn sớm.

3.2. Biểu hiện ngoài xương

  • Tổn thương thận gặp trong 70% trường hợp: protein niệu, vô niệu, suy giảm chức năng thận, dần dần suy thận mạn
  • Biểu hiện thần kinh: Do các khối u chèn ép trực tiếp hay do các globulin miễn dịch gây tổn thương. Chèn ép tủy và rễ thần kinh biểu hiện đau kiểu rễ, tổn thương các dây thần kinh sọ não, viêm đa dây thần kinh, tăng áp lực nội sọ…
  • Thiếu máu, xuất huyết do giảm tiểu cầu.

Xuất huyết do giảm tiểu cầu cũng là biểu hiện của bệnhXuất huyết do giảm tiểu cầu cũng là biểu hiện của bệnh

  • Nhiễm khuẩn : viêm phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu
  • Tăng canxi máu: lờ đờ, mệt mỏi, trầm cảm, nôn, rối loạn nước và điện giải, rối loạn tri giác, hôn mê,…
  • Các biểu hiện khác: gan, lách, hạch to, rối loạn tiêu hóa,…

4. Những yếu tố nào làm tăng nguy cơ mắc bệnh đa u tủy xương?

Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ gây ra u tủy, chẳng hạn như:

  • Tuổi tác: Nguy cơ đa u tủy tăng theo độ tuổi. Hầu hết mọi người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư này đều từ 65 tuổi;
  • Giới tính: Nam giới có nhiều khả năng mắc đa u tủy hơn phụ nữ;
  • Chủng tộc: Người Mỹ gốc Phi có nguy cơ mắc bệnh cao gấp đôi so với người da trắng;
  • Bức xạ: Người tiếp xúc với bức xạ mức độ cao (bom nguyên tử) hoặc mức độ thấp trong một thời gian dài (do đặc tính công việc) có nguy cơ mắc bệnh cao;
  • Bệnh sử gia đình: Đa u tủy có tính di truyền;
  • Béo phì: Một nghiên cứu của Hiệp hội ung thư Hoa Kỳ đã tìm ra việc thừa cân hoặc béo phì làm tăng nguy cơ bệnh đa u tủy;
  • Bệnh tế bào huyết tương khác hoặc ung thư khác.

5. Đa u tủy xương có nguy hiểm không?

Đa u tủy xương hay còn gọi là bệnh Kahler thuộc 8% bệnh lý ác tính trong hệ tạo huyết, là bệnh lý ung thư tương bào là những tế bào giữ chức năng tiết ra kháng thể. Khi những tương bào này trở nên ác tính, nó chỉ tiết ra kháng thể đơn dòng không có chức năng như bình thường mà lắng đọng ở những cơ quan trong cơ thể dẫn đến rối loạn chức năng ở những bộ phận này. Ngoài ra, khi bị bệnh globulin miễn dịch của bệnh nhân cũng giảm đi nhiều nên khả năng miễn dịch của bệnh nhân cũng giảm đi rất nhiều.

Những dấu hiệu ban đầu của bệnh đa u tủy xương bao gồm mệt mỏi, suy nhược cơ thể, gầy sút, ăn uống kém, đau xương sườn, xương cột sống, đau khớp, nhức đầu… Khi tiến tới giai đoạn toàn phát, bệnh đa u tủy và các u tương bào làm cho bệnh nhân suy nhược cơ thể toàn thân, đau những xương như cột sống thắt lưng, xương sọ, xương ức và cường độ đau liên tục và không đáp ứng với thuốc giảm đau, có những trường hợp còn xảy ra gãy xương tự phát.

Đa u tuỷ xương là bệnh rất nguy hiểm, gây suy thận, nhiễm khuẩn,...thậm chí là cả tính mạngĐa u tuỷ xương là bệnh rất nguy hiểm, gây suy thận, nhiễm khuẩn,…thậm chí là cả tính mạng

Bệnh nhân đa u tủy xương còn có những triệu chứng của thiếu máu, tăng canxi máu do sự tăng hủy xương và bất động quá lâu, suy thận, nhiễm khuẩn…

Đa u tủy xương là bệnh lý rất nguy hiểm với những biến chứng ảnh hưởng đến tính mạng con người như nhiễm trùng phổi, nhiễm khuẩn tiết niệu, biến chứng về thần kinh do sự chèn ép tủy làm liệt chi dưới, liệt dây thần kinh sọ, rối loạn tâm thần. Ngoài ra, bệnh còn để lại những biến chứng về máu rất nghiêm trọng, dễ dẫn đến suy tủy, chảy máu. Triệu chứng suy thận ở bệnh làm tăng nồng độ axit uric.

6. Các biện pháp chẩn đoán đa u tuỷ xương

Chẩn đoán xác định:

  • Lâm sàng: Đau xương, u xương.
  • Xquang: Tiêu xương hình hốc, loãng xương lan tỏa.
  • Plasmocyte tăng: Chọc dò khối u, tủy đồ.
  • Xét nghiệm protid máu, điện di, nước tiểu.
  • Chụp cắt lớp vi tính, cộng hưởng từ phát hiện tổn thương sớm.
  • Xạ hình xương là phương pháp mới hiện đại có thể phát hiện được đa u tủy xương trong giai đoạn sớm nhất. Là phương pháp sử dụng thiết bị hiện đại cho hình ảnh rõ nét toàn bộ xương của toàn cơ thể, là xét nghiệm hàng đầu chẩn đoán các bệnh lý về xương đặc biệt phát hiện các bệnh lý về ung thư trong đó có đa u tủy xương.

Có nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh đa u tuỷ xươngCó nhiều phương pháp để chẩn đoán bệnh đa u tuỷ xương

Chẩn đoán phân biệt:

  • U xương do di căn ung thư.
  • Bệnh gây tiêu xương và loãng xương: cường cận giáp, loãng xương sau mãn kinh, loãng xương nguyên phát.
  • Bệnh máu có biểu hiện ở xương.

7. Điều trị bệnh đa u tủy xương

7.1. Đa u tủy xương có chữa được không?

Vì đây là một căn bệnh ác tính nên những phương pháp điều trị bệnh đa u tủy xương có thể giúp bệnh nhân duy trì sự sống trong thời gian từ 6 tháng đến 3 năm. Mục tiêu điều trị bệnh đa u tủy xương là giảm triệu chứng, giảm sự sinh sản protein và ngăn chặn khả năng ác tính của bệnh.

Những phương pháp điều trị bệnh đa u tủy xương phổ biến là hóa trị, xạ trị hoặc có thể là thay huyết tương. Trong trường hợp bệnh nhân có kèm theo hiện tượng suy thận thì cần điều trị suy thận kết hợp với điều trị hóa chất, trường hợp tăng canxi máu thì phải lọc huyết tương hay sử dụng kháng sinh trong trường hợp bệnh nhân bị nhiễm trùng.

7.2. Điều trị

Bệnh đa u tủy xương có thể điều trị được bằng điều trị đặc hiệu bằng ghép tế bào gốc điều trị đa u tủy xương. Ghép tế bào gốc tạo máu là phương pháp triệt để chữa bệnh máu ác tính.

Ghép tế bào gốc tạo máu là phương pháp điều trị triệt để nhất, cơ hội giúp bệnh nhân mắc bệnh về máu ác tính, trong đó có bệnh đa u tủy xương để bệnh nhân có thể lui bệnh và có cuộc sống bình thường. Để đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị tối ưu, bệnh nhân từ khi ghép tế bào gốc sẽ được chuyển vào khu vô trùng để cách ly, chăm sóc và điều trị đặc biệt trong phòng cách ly cho đến khi các chỉ số xét nghiệm sau ghép trở về bình thường, sau đó mới chuyển về phòng bệnh thường.

Ghép tế bào gốc tạo máu là phương pháp hiệu quả nhất hiện nayGhép tế bào gốc tạo máu là phương pháp hiệu quả nhất hiện nay

Mục tiêu điều trị là ngăn chặn sự ác tính, làm giảm các triệu chứng bệnh, giảm sản sinh protein. Người bệnh được điều trị chủ yếu là hóa trị liệu hoặc thay huyết tương. Nếu suy thận nặng phải điều trị suy thận vừa điều trị hóa chất. Nếu nồng độ canxi máu quá cao cần lọc huyết tương. Nếu có nhiễm khuẩn thì dùng kháng sinh…

Đa u tủy là một bệnh gây tổn thương tủy xương và nhiều cơ quan ngoài xương do tăng sinh có tính chất ác tính của tương bào. Do đó điều trị bao gồm các vấn đề chính sau: Đau xương và phá hủy cấu trúc xương, tăng calci máu, suy tủy với thiếu máu dai dẳng, giảm tiểu cầu và giảm bạch cầu, suy thận và nhiễm trùng bội nhiễm. Hầu hết bệnh nhân cần được điều trị hệ thống hóa chất để kiểm soát khối u và điều trị triệu chứng để ngăn ngừa biến chứng, cụ thể:

  • L.Phenylalanin Mustard (L-PAM, Melphalan), cyclophosphamide phối hợp với Prednisolon, dùng từng đợt, thời gian điều trị kéo dài 1-2 năm. Cần theo dõi chặt chẽ lâm sàng và xét nghiệm để điều chỉnh thuốc.
  • Có thể dùng hóa trị liệu phối hợp xen kẽ.
  • Điều trị khác: Chiếu xạ, phẫu thuật.
  • Điều trị triệu chứng phối hợp: kháng sinh, lọc máu,…

Xem thêm: Nhận diện và điều trị viêm tuỷ xương như thế nào?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close