Sống khoẻ

Bóc tách động mạch chủ có nguy hiểm? Biến chứng như thế nào?

Bóc tách động mạch chủ là một thảm họa động mạch chủ với tần suất 5-30 trường hợp/ 1 triệu dân/1 năm. Với tỷ lệ tử vong khoảng 1%/mỗi giờ trong 48 giờ đầu.

1. Thế nào là bóc tách động mạch chủ?

Bóc tách động mạch chủ (hay còn gọi là lóc tách động mạch chủ) là tình trạng bị vỡ lớp nội mạc và lớp trung mạc của động mạch chủ, máu len giữa các lớp động mạch và bóc tách chúng tạo nên lòng giả động mạch. Với áp lực của dòng máu các lớp động mạch sẽ tiếp tục bóc tách dọc theo động mạch và chúng có thể tiếp tục làm rách lớp nội mạc động mạch.

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong việc chẩn đoán và điều trị song bóc tách động mạch chủ vẫn là một bệnh lý chết người với tỷ lệ tử vong cao. Tới 21% các trường hợp tử vong trước khi nhập viện.

Nếu không được điều trị khoảng 23% trường hợp tử vong trong 6 giờ đầu, 50% tử vong trong 24 giờ, 68% tử vong trong 1 tuần. Con số dễ nhớ là tỷ lệ tử vong tăng xấp xỉ 1%/giờ trong vòng 48 giờ đầu.

Bóc tách động mạch chủ có tỷ lệ tử vong khoảng 1%/mỗi giờ trong 48 giờ đầuBóc tách động mạch chủ có tỷ lệ tử vong khoảng 1%/mỗi giờ trong 48 giờ đầu

Bóc tách động mạch chủ cấp nằm trong nhóm bệnh của hội chứng động mạch chủ cấp (gồm bóc tách động mạch chủ, tụ máu trong thành, loét xuyên thành, phình động mạch chủ tiến triển nhanh, và chấn thương hoặc do thầy thuốc gây ra). Bóc tách động mạch chủ xảy ra khi xuất hiện vết rách nội mạc, dòng máu qua vết rách nội mạc làm bóc tách các lớp áo của động mạch chủ, tạo ra lòng giả và lòng thật, bóc tách lan dọc đường đi của động mạch, có thể lan xuống bụng, lan vào các mạch tạng, mạch chi gây nhiều biến chứng nguy hiểm.

Bóc tách động mạch chủ được coi là cấp khi xảy ra dưới 2 tuần, bán cấp khi thời gian từ 2-8 tuần, mạn tính khi >8 tuần

Bóc tách động mạch chủ được phân loại theo De-Bakey hoặc Stanford. Trong đó phân loại theo Stanford được sử dụng rộng rãi trong lâm sàng:

  • Stanford A (typ A): có bóc tách ở động mạch chủ lên (có thể kèm theo lóc tách ở phần quai hoặc động mạch chủ xuống).
  • Stanford B (typ B): không có bóc tách ở phần động mạch chủ lên.

2. Nguyên nhân nào gây ra bệnh bóc tách động mạch chủ?

Bóc tách động mạch chủ xuất hiện khi có một vết rách ở lớp trong của động mạch làm máu đẩy 2 lớp trong và lớp ngoài của động mạch chủ rời khỏi nhau. Nguyên nhân gây ra hiện tượng này chưa được xác định rõ, nhưng bóc tách động mạch chủ thường đi cùng với tăng huyết áp, xơ vữa động mạch và bệnh lý mô liên kết (hội chứng Marfan và Ehlers-Danlos).

Các loại nhiễm trùng như bệnh giang mai cũng có thể dẫn đến phình động mạch chủ nhưng trường hợp này rất hiếm.

3. Triệu chứng của bóc tách động mạch chủ

Đau ngực/lưng: đây là triệu chứng hay gặp nhất. Đau ngực thường dữ dội, như dao đâm hay như xé ngực, xuyên ra sau lưng, kéo dài trong nhiều giờ. Nhiều khi cần phải dùng thuốc giảm đau loại morphin mới làm dịu được cơn đau.

Đau ngực là triệu chứng hay gặp nhấtĐau ngực là triệu chứng hay gặp nhất

Các triệu chứng khi lóc tách lan rộng:

  • Chênh lệch huyết áp hai tay: có thể sờ thấy mạch một bên tay (thường tay trái) yếu hơn tay phải, đôi khi mất mạch. Huyết áp hai tay chênh lệch trên 20mmHg. Điều này là do lóc tách động mạch chủ lan vào động mạch dưới đòn trái.
  • Dấu hiệu thần kinh khu trú: giảm ý thức đột ngột, liệt nửa người thường do lóc tách lan vào động mạch cảnh gây đột quỵ não cấp tính.
  • Tiếng thổi ở tim: thường do lóc tách động mạch chủ Stanford A lan vào van động mạch chủ, gây hở van động mạch chủ tạo ra tiếng thổi tâm trương mới xuất hiện, thường kèm theo triệu chứng của suy tim cấp.
  • Nhồi máu cơ tim: hiếm khi xảy ra, do lóc tách lan vào động mạch vành.
  • Đau bụng, chướng bụng: lóc tách lan xuống động mạch chủ bụng và các mạch mạc treo, gây thiếu máu ruột, giảm nhu động ruột, gây đau và chướng bụng.
  • Triệu chứng của lóc tách động mạch chủ vỡ.
  • Sốc, tụt huyết áp.
  • Khó thở do tràn máu màng tim, tràn máu màng phổi.
  • Triệu chứng chèn ép tim cấp: tiếng tim mờ, tụt áp, tĩnh mạch cổ nổi.

4. Yếu tố nguy cơ

Bóc tách động mạch chủ thường phổ biến ở đàn ông khoảng 60-70 tuổi, nhưng trong một số ít trường hợp cũng có thể xuất hiện ở những người trẻ tuổi hơn. Bóc tách động mạch chủ là một bệnh lý rất nghiêm trọng và là nguyên nhân dẫn đến tử vong hoặc suy tim.

Phình động mạch là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh bóc tách động mạch chủPhình động mạch là yếu tố làm tăng khả năng mắc bệnh bóc tách động mạch chủ

Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng mắc bệnh bóc tách động mạch chủ như:

  • Tăng huyết áp không kiểm soát.
  • Xơ cứng động mạch.
  • Bị phình động mạch.
  • Khiếm khuyết van động mạch chủ (van động mạch chủ 2 lá).
  • Hẹp eo động mạch chủ bẩm sinh.
  • Các bệnh di truyền như hội chứng Turner, hội chứng Marfan, bệnh mô liên kết khác (hội chứng Ehlers-Darlos, hội chứng Loeys – Dietz), các tình trạng viêm nhiễm (viêm động mạch đại bào, giang mai).

5. Vì sao bóc tách động mạch chủ lại nguy hiểm?

Thành động mạch chủ được cấu tạo rất bền vững để đảm bảo chịu được áp lực cao, liên tục trong suốt cuộc đời của mỗi con người (chính là huyết áp động mạch).

Các nhà giải phẫu bệnh đã tìm hiểu và cho thấy thành động mạch chủ được cấu tạo bởi 3 lớp tổ chức có tính chất mô học khác nhau (được đặt tên 3 lớp áo: ngoài, giữa và trong). Ba lớp này hòa quyện với nhau thành một tấm vững chắc chính là thành động mạch. Nếu vì một lý do nào đó phá hỏng cấu trúc thống nhất này, khả năng chịu lực bị đe dọa có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng khó lường.

Một trong những bệnh lý nguy hiểm nhất là bóc tách thành động mạch chủ: Lớp áo trong bị xé rách, dòng máu áp lực cao đi vào giữa các lớp làm thành động mạch bị tách làm đôi dẫn tới hậu quả như:

  • Vỡ gây ra tử vong do sốc mất máu (giống như vỡ đường ống nước chính).
  • Thiếu máu tại các cơ quan do mảng thành mạch bị tách ra lấp kín các lỗ vào của nhánh mạch nuôi.

6. Biến chứng nguy hiểm của bóc thành động mạch chủ

Bóc thành động mạch chủ có thể gây ra một số biến chứng nguy hiểm như:

  • Vỡ qua thành tự do của lòng giả: Thường có liên quan trực tiếp đến vết rách nguyên ủy: Vỡ vào khoang màng tim ép tim, vỡ vào khoang màng phổi, trung thất…
  • Hở van động mạch chủ cấp tính: Xuất hiện ở 50% các trường hợp bóc thành động mạch chủ lên, do bóc tách ở giữa các tổ chức chống đỡ cho van động mạch chủ, có thể dẫn tới suy tim ứ huyết nặng nề.

Biến chứng hở van động mạch chủBiến chứng hở van động mạch chủ

  • Chèn ép vào các nhánh động mạch quan trọng: Do bóc tách lan vào các nhánh bên hoặc mảng nội mạc rách ép vào lỗ xuất phát. Lâm sàng đa dạng: đột quỵ não, liệt hai chi dưới, tăng huyết áp do suy thận, thiếu máu tạng, nhồi máu cơ tim.
  • Phình giãn và vỡ thứ phát: Bệnh được gọi là “thảm họa” trong các bệnh tim mạch. Các yếu tố nguy cơ chính thường gặp gây lóc tách thành động mạch chủ là: Xơ vữa động mạch, rối loạn bẩm sinh tổ chức cấu tạo nên thành mạch và tăng huyết áp. Khi cộng gộp hai yếu tố: thành mạch yếu và tăng huyết áp sẽ là quả bom làm bùng phát bóc tách bất cứ lúc nào nếu không được phát hiện và điều trị.

7. Chẩn đoán và điều trị bóc tách động mạch chủ

7.1. Những kỹ thuật y tế nào dùng để chẩn đoán bóc tách động mạch chủ?

Bác sĩ sẽ chẩn đoán bóc tách động mạch chủ dựa trên hỏi về bệnh sử và khám lâm sàng. Tuy nhiên, chẩn đoán bóc tác động mạch chủ thường rất khó khăn do triệu chứng khá giống với các bệnh lý tim mạch khác do đó thông thường bác sĩ có thể yêu cầu thêm các xét nghiệm hỗ trợ khác như:

  • Chụp X quang ngực.
  • Chụp CT ngực bằng thuốc nhuộm.

Chẩn đoán bằng phương pháp chụp CT timChẩn đoán bằng phương pháp chụp CT tim

  • Chụp MRI ngực (dùng từ trường để quan sát động mạch chủ).
  • Siêu âm tim qua đường thực quản (bác sĩ sẽ đưa đầu dò vào miệng của bệnh nhân rồi đi xuống thực quản để có những hình ảnh cụ thể của động mạch chủ).
  • Chụp động mạch chủ (bác sĩ sẽ đặt 1 ống mỏng vào động mạch ở chân bệnh nhân rồi đi lên động mạch chủ, sau đó chụp ảnh động mạch chủ).

7.2. Điều trị

Gồm ba lựa chọn chính: điều trị nội khoa, can thiệp nội mạch, phẫu thuật thay đoạn động mạch chủ.

Điều trị nội khoa cấp cứu

  • Giảm đau: có thể dùng thuốc giảm đau morphin, dẫn xuất của morphin (fentanyl).
  • Kiểm soát huyết áp: mục tiêu huyết áp cần kiểm soát dưới 120mmHg, có thể dùng các thuốc đường tĩnh mạch: nicardipin, nitroprusside.
  • Kiểm soát mạch: mục tiêu tần số tim khoảng 60-70 chu kì/phút, thường dùng thuốc chẹn beta đường uống (phổ biến ở Việt Nam) hoặc đường tĩnh mạch (phổ biến ở nước ngoài).

Nên phẫu thuật càng sớm càng tốtNên phẫu thuật càng sớm càng tốt

Tách động mạch chủ Stanford A

Chỉ định phẫu thuật cấp cứu thay đoạn động mạch chủ, có thể thay cả van động mạch chủ tùy từng trường hợp.

Tách động mạch chủ Stanford B

Nếu có biến chứng (tràn dịch màng phổi, thiếu máu tạng) hoặc khi tăng huyết áp kéo dài khó kiểm soát, đau kéo dài, đau tái phát, phình tiến triển nhanh, cần can thiệp nội mạch đặt stent graft che phủ. Nếu không có biến chứng có thể điều trị nội khoa bảo tồn và theo dõi sát, tuy nhiên hiện tại chỉ định đặt stent graft cho nhóm đối tượng này vẫn mang lại nhiều lợi ích (mức độ IIa theo ESC).

Xem thêm: Đau thắt ngực: dấu hiệu của nhiều bệnh lý tim mạch nguy hiểm!

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close