Sống khoẻ

Bệnh Kawasaki ở trẻ em được điều trị như thế nào?

Bệnh Kawasaki là bệnh thường xảy ra đối với trẻ dưới 5 tuổi, hiện nay có khá nhiều trường hợp mắc bệnh này tại Mỹ, Nhật Bản. Ở Việt Nam những năm gần đây cũng ghi nhận nhiều trường hợp mắc bệnh.

1. Bệnh Kawasaki là bệnh gì?

Bệnh Kawasaki là tình trạng sốt cấp hay kèm phát ban toàn thân ở trẻ nhỏ, với đặc điểm có viêm lan tỏa của hệ mạch máu nhỏ và vừa trên toàn cơ thể, bao gồm cả động mạch vành cung cấp máu cho cơ tim.

Bệnh hầu như chỉ xảy ra ở trẻ em, đa phần các bệnh nhân đều dưới năm tuổi. Do nhiều nguyên nhân chưa biết rõ, tỉ lệ mắc bệnh ở nam thường cao hơn gấp hai lần so với ở nữ

Bệnh Kawasaki thường gặp ở trẻ em nhỏ dưới 5 tuổi, hay gặp nhất ở lứa tuổi bú mẹBệnh Kawasaki thường gặp ở trẻ em nhỏ dưới 5 tuổi, hay gặp nhất ở lứa tuổi bú mẹ

Căn bệnh này được đặt tên theo tên một bác sĩ nhi khoa người Nhật Bản, người đã mô tả mẫu dấu hiệu và triệu chứng đặc trưng của bệnh này vào năm 1967. Từ thời điểm đó, bệnh Kawasaki được phát hiện xảy đến thường xuyên nhất đối với trẻ em Nhật Bản. Ở Mỹ, bệnh này được ghi nhận xảy ra đối với mọi chủng tộc và dân tộc nhưng nó xảy ra thường xuyên nhất đối với trẻ em Mỹ có nguồn gốc Châu Á.

2. Nguyên nhân gây bệnh Kawasaki ở trẻ em

Đến nay, chưa xác định được nguyên nhân nào gây ra bệnh Kawasaki. Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng nguyên nhân về lây nhiễm (ví dụ như virút hoăc vi khuẩn) là rất có khả năng, mặc dù cũng có thể có xu hướng về di truyền và điều đó có thể lý giải tại sao bệnh này xảy ra thường xuyên hơn ở những người có tổ tông người Nhật Bản.

Nhiều chuyên gia cho rằng virus hoăc vi khuẩn nguyên nhân gây bệnhNhiều chuyên gia cho rằng virus hoăc vi khuẩn nguyên nhân gây bệnh

Ngoài ra yếu tố môi trường, có thể là tác nhân gây bệnh. Và đến nay vẫn chưa có một bằng chứng xác thực nào cho thấy bệnh này lây truyền.

3. Triệu chứng bệnh Kawasaki

Một số các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Kawasaki sau đây các bậc phụ huynh cần lưu ý:

Sốt là biểu hiện hay gặp nhất, thường xuất hiện đầu tiên và kéo dài trên 5 ngày, với đặc điểm ít đáp ứng với kháng sinh hay thuốc hạ nhiệt thông thường.

Một số triệu chứng của bệnh KawasakiMột số triệu chứng của bệnh Kawasaki

  • Kết mạc mắt sung huyết, đỏ; thường không chảy dịch, hình thành trong tuần bị bệnh đầu tiên.
  • Môi đỏ rõ, có thể nứt kẽ rỉ máu.
  • Lưỡi đỏ và có thể nổi gai.
  • Phát ban thường xuất hiện sớm khi mắc bệnh; thường gặp ban đỏ đa dạng, toàn thân.
  • Biểu hiện ở đầu chi như sưng nề mu bàn tay, chân; đỏ tía gan bàn tay, bàn chân.
  • Hạch bạch huyết vùng cổ, góc hàm có thể sưng lên to, thường một bên.

Các triệu chứng của bệnh Kawasaki thường giống nhiều bệnh sốt cấp khác như nhiễm trùng, sốt phát ban nhiệt đới trong khi một số triệu chứng tiến triển giống như tự thoái lui nên bệnh rất dễ bỏ qua hoặc chẩn đoán nhầm lẫn với các bệnh lý khác.

Do đó, nếu trẻ nhỏ sốt cao liên tục 3 – 4 ngày, kèm 2 hoặc 3 trong số biểu hiện phát ban đỏ ngoài da; môi đỏ và lưỡi đỏ nổi gai; đỏ mắt hai bên (viêm đỏ kết mạc); sưng hạch góc hàm thì cần nghĩ đến bệnh Kawasaki và sớm đưa con đến khám tại các bệnh viện có chuyên khoa tim mạch nhi.

4. Biến chứng bệnh Kawasaki

Nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì biểu hiện lâm sàng của bệnh có thể tự thoái lui, tuy nhiên các biến chứng của bệnh ở các cơ quan, đặc biệt là biến chứng phình giãn động mạch vành tim gây hậu quả nhồi máu cơ tim hay hẹp tắc động mạch vànhthiếu máu cơ tim, suy vành mãn tính.

Biến chứng nhồi máu cơ timBiến chứng nhồi máu cơ tim

5. Chẩn đoán bệnh

Không có triệu chứng và xét nghiệm đặc trưng nên xác định bệnh chủ yếu dựa vào tập hợp các triệu chứng lâm sàng chính hay gặp kết hợp với một số xét nghiệm mà chủ yếu là siêu âm tim.

5.1. Biểu hiện lâm sàng hay găp có giá trị chẩn đoán

Các biểu hiện chính có giá trị chẩn đoán bệnh (6 biểu hiện lâm sàng).

  • Sốt liên tục 5 ngày hoặc hơn.
  • Viêm đỏ kết mạc 2 bên.
  • Thay đổi khoang miệng: Môi đỏ sẫm, mọng hoặc rỉ máu, phù đỏ khoang miệng, lưỡi đỏ nổi gai, “ lưỡi dâu tây” ( Strawberry tongue).
  • Thay đổi đầu chi: Giai đoạn đầu: phù mu tay, mu chân, đỏ tía gan bàn tay, bàn chân. Giai đoan bán cấp: bong da đầu ngón tay, đầu ngón chân.
  • Ban đỏ đa dạng toàn thân.

Bị phát ban và sưng hạch góc hàmBị phát ban và sưng hạch góc hàm

  • Sưng hạch góc hàm >1,5 cm , không hóa mủ.

5.2. Xét nghiệm (giúp chẩn đoán và phân biệt)

  • Đa số bệnh nhân có tăng số lượng bạch cầu ngoại biên, công thức chuyển trái (Số lượng bạch cầu >12.000/ mm3;  BC trung tính >50%).
  • Tăng  tiểu cầu sau ngày thứ 7 (> 450.000/ mm3).
  • Thiếu máu nhược sắc các mức độ.
  • Phản ứng viêm tăng sớm và kéo dài: Tốc độ lắng máu cao > 40 mm/h.

Xét nghiệm protein phản ứng CXét nghiệm protein phản ứng C

  • CRP tăng rõ (>30mg/dl).
  • Thay đổi ít gặp hơn: tăng men gan; giảm Albumine huyết thanh (<3.0gr/dl).
  • Bạch cầu niệu ( > 10 bạch cầu /vi trường).
  • Điện tâm đồ: có thể gặp loạn nhịp nhanh, block nhĩ thất, giảm điện thế.

5.3. Thăm dò siêu âm tim

– Tiêu chuẩn giãn hay phình động mạch vành: đường kính trong (lumen diameter) >3 mm ở trẻ dưới 5 tuổi, > 4 mm ở trẻ trên 5 tuổi; hoặc đường kính động mạch vành nơi tổn thương gấp rưỡi đoạn kế tiếp. Theo diện tích da: Z score của ĐMV phải và nhánh liên thất trước ≥ 2,5 SD.

 – Tiêu chuẩn tổn thương viêm động mạch vành, viêm tim (giai đoạn cấp,12 ngày đầu): thành động mạch vành dày, mất thuôn hoặc giãn rất nhẹ (kích thước động mạch vành phải hoặc nhánh liên thất trước là 2-2,5 SD), hoặc  tràn dịch màng tim, hoặc hở van 2 lá, hoặc chức năng tâm thu thất trái giảm.

Thành động mạch vành dàyThành động mạch vành dày

Những tổn thương động mạch vành chủ yếu xảy ra trong giai đoạn cấp và bán cấp (tuần 2 – 4).

5.4. Chẩn đoán xác định

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh:

–  Có 5 trong số 6 biểu hiện lâm sàng chính. Hoặc:

–  4 biểu hiện chính + Giãn hay phình động mạch vành trên siêu âm hoặc chụp mạch. Hoặc:

–  Ít nhất 4/5 triệu chứng chính (Sốt liên tục ≥ 5 ngày  là tiêu chuẩn bắt buộc).

Đồng thời phải loại trừ những bệnh lý có biểu hiện lâm sàng tương tự.

Thể không đủ triệu chứng hay không điển hình (Incomplet, Atypical KD)

Biểu hiện lâm sàng Kawasaki kèm tổn thương động mạch vành nhưng không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán. Lâm sàng sốt 5 ngày hoặc hơn kèm 2 hoặc 3 Tiêu chuẩn chính + tổn thương động mạch vành trên siêu âm.

Trong trường hợp này, cần kết hợp với tiêu chuẩn về xét nghiệm để loại trừ các bệnh lý khác.

Chẩn đoán phân biệt:

Hội chứng Stevens-JohnsonHội chứng Stevens-Johnson

Cần loại trừ các bênh lý tương tự như nhiễm khuẩn máu, nhiễm tụ cầu trùng, liên cầu nhóm A, hội chứng Stevens-Johnson, phản ứng dị ứng thuốc, nhiễm vi rút như sởi, sốt xuất huyết, sốt phát ban nhiệt đới có bội nhiễm, nhiễm Rickettsia…

6. Điều trị bệnh Kawasaki ở trẻ như thế nào?

Trẻ khi bị mắc bệnh Kawasaki nên được điều trị tại bệnh viện. Tại đây trẻ sẽ được sử dụng thuốc để ngăn ngừa tổn thương tại vành mạch. Bao gồm:

  • Gamma globulin (IVIG) liều cao tiêm vào tĩnh mạch là phương pháp điều trị được chọn lựa cho bệnh nhân bị bệnh Kawasaki. Đây là phương pháp điều trị hiệu quả giúp thuyên giảm triệu chứng, và quan trọng hơn là có thể ngăn ngừa hoặc giảm thương tổn động mạch vành nếu được điều trị sớm trong 10 ngày kể từ khi xuất hiện sốt.

Tiêm Gamma globulin liều cao vào tĩnh mạchTiêm Gamma globulin liều cao vào tĩnh mạch

  • Aspirin (ASA) liều cao cũng được cho sử dụng cùng với IVIG trong giai đoạn cấp tính của bệnh cho đến khi giảm sốt.

Nếu được điều trị, bệnh thường diễn biến tốt hơn. Một số trẻ sẽ cần phải điều trị lần 2 với IVIG hay những loại thuốc khác.

Để trẻ có thể được chẩn đoán và điều trị một cách chính xác và hiệu quả, tránh những biến chứng có thể xảy ra, cha mẹ nên lựa chọn những cơ sở uy tín hàng đầu.

Xem thêm: Tìm hiểu về hội chứng Churg Strauss (bệnh viêm mạch u hạt dị ứng)

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close