Dinh dưỡng

Suy dinh dưỡng bào thai là gì? Chế độ dinh dưỡng trong các giai đoạn của thai kỳ?

Trong thời gian mang thai, nếu người mẹ không được ăn uống đầy đủ, làm việc – nghỉ ngơi không hợp lý hoặc bị bệnh thì trẻ rất dễ bị suy dinh dưỡng bào thai. Thiếu dinh dưỡng càng sớm đặc biệt từ giai đoạn bào thai sẽ để lại hậu quả nặng nề cho sức khỏe và quá trình tăng trưởng của bé.

1. Suy dinh dưỡng bào thai là gì?

Suy dinh dưỡng bào thai là thể suy dinh dưỡng thể hiện sớm nhất ở trẻ. Trẻ được coi là suy dinh dưỡng bào thai nếu được sinh đủ tháng nhưng cân nặng lúc mới ra đời dưới 2.500g. Ở những trẻ này, các cơ quan như da, cơ, xương, gan, não, thận,… đều bị ảnh hưởng.

Suy dinh dưỡng bào thai làm não bộ trẻ chậm phát triểnSuy dinh dưỡng bào thai làm não bộ trẻ chậm phát triển

Suy dinh dưỡng bào thai xảy ra ở 3 tháng cuối của thai kỳ sẽ làm não bộ trẻ chậm phát triển, sau này bé thường kém thông minh. Bên cạnh đó, suy dinh dưỡng bào thai còn thường đi kèm với các bệnh mạn tính khá như: bệnh tim mạch, bệnh chuyển hóa, bệnh về máu và các dị tật bẩm sinh.

Ngoài ra, trẻ bị suy dinh dưỡng bào thai khi chào đời cũng dễ bị hạ đường máuhạ thân nhiệt gây rối loạn nhịp thở, hạ canxi máu gây co giật. Nếu được nuôi dưỡng đúng cách, trẻ có thể tăng trưởng bình thường, đạt mức cân nặng như các trẻ khác sau 2 – 3 tháng. Ngược lại, trường hợp nuôi dưỡng không tốt, trẻ sẽ tiếp tục bị suy dinh dưỡng, ốm đau, chậm phát triển trí tuệ và thể chất.

Đặc biệt, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), có khoảng hơn 30% số trẻ có cân nặng khi sinh dưới 2.500g thường tử vong trong năm đầu đời.

2. Hậu quả của thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ

Thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mô não, thần kinh và sẽ không bao giờ phục hồi hoàn chỉnh được. Hậu quả của việc thiếu dinh dưỡng trong thai kỳ sẽ tùy thuộc vào từng giai đoạn thai kỳ:

  • Giai đoạn sớm thai kỳ: có thể dẫn đến sảy thai.
  • Giai đoạn hình thành các cơ quan của cơ thể: có thể gây dị tật bẩm sinh.
  • Giai đoạn cuối thai kỳ: chậm phát triển bào thai dẫn đến trẻ sinh ra có cân nặng dưới 2500g.

Thiếu dinh dưỡng trong thời gian thai kỳ có thể dẫn đến sinh nonThiếu dinh dưỡng trong thời gian thai kỳ có thể dẫn đến sinh non

Nếu lượng đạm ăn vào quá ít trong suốt thai kỳ thì số lượng tế bào của mô thai nhi sẽ giảm, trẻ sinh ra sẽ nhẹ cân và chiều dài không đạt mức tối đa theo tiềm năng di truyền cho phép.

  • Thiếu chất đạm đặc biệt nghiêm trọng đối với não bộ vì sẽ gây nên sự chậm phát triển không hồi phục.
  • Thiếu folate trong những tuần đầu thai kỳ sẽ bị dị tật ống thần kinh như nứt đốt sống và thiếu một phần não bẩm sinh. Ống thần kinh đóng không hoàn toàn là nguyên nhân dẫn đến bại liệt, não úng thuỷ… Ống thần kinh thường đóng lại vào khoảng ngày 24-28 của thai kỳ, đây là thời điểm nhiều phụ nữ chưa nhận biết mình có thai nên chế độ ăn chưa được điều chỉnh hợp lý.
  • Thiếu folate ở giai đoạn cuối thai kỳ sẽ dẫn đến thai nhi chậm tăng trưởng và bà mẹ mang thai có thể bị chứng thiếu máu hồng cầu to và các biến chứng trong thai kỳ như nhau bong non, xuất huyết.
  • Thiếu iốt trước và trong quá trình mang thai sẽ sinh ra trẻ đần độn, nếu thiếu nhẹ thì có thể dẫn đến chậm phát triển khả năng nhận thức & vận động của trẻ.
  • Tình trạng thiếu vitamin A ở bà mẹ mang thai sẽ dẫn đến sinh non, thai chậm phát triển và sơ sinh nhẹ cân.
  • Thiếu sắt ở mẹ có thể làm tăng nguy cơ chết chu sinh ở trẻ, sanh non, hoặc trẻ sinh ra nhẹ cân, mẹ có thể bị băng huyết sau sinh, chậm phục hồi sức khỏe, giảm sức đề kháng.
  • Thiếu kẽm ở bà mẹ mang thai sẽ ảnh hưởng đến chiều dài tiềm năng của trẻ.
  • Thiếu vitamin D trong suốt thai kỳ sẽ gây rối loạn chuyển hoá canxi dẫn đến hạ canxi huyết, co giật do thiếu canxi, giảm sản men răng của trẻ và chứng nhuyễn xương ở mẹ.

Trẻ sinh ra từ phụ nữ có chế độ ăn thiếu vitamin B12 sẽ có nguy cơ cao bị chậm tăng trưởng.

3. Nhu cầu dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai

 3.1. Năng lượng

Quan niệm bà mẹ mang thai phải ăn gấp đôi là không đúng vì ăn quá nhiều sẽ khiến bà mẹ tăng cân quá mức cần thiết.

Bà mẹ mang thai cần bổ sung dưỡng chất và uống thêm sữa bầuBà mẹ mang thai cần bổ sung dưỡng chất và uống thêm sữa bầu

Trong 3 tháng đầu thai kỳ, nhu cầu năng lượng tăng không đáng kể. Do đó, ăn đa dạng và đầy đủ các chất dinh dưỡng vẫn quan trọng hơn là ăn thật nhiều. Tuy nhiên, đối với bà mẹ trước khi mang thai bị suy dinh dưỡng thì sẽ cần tăng năng lượng ăn vào ít nhất là 150 kcal, tương đương với tăng 1-2 bữa phụ như uống thêm 1 ly sữa, ăn thêm trái cây.

Trong 6 tháng sau thai kỳ, bà mẹ mang thai cần tăng khoảng 300 kcal/ngày, tương đương ăn thêm 1 chén cơm cùng các loại thức ăn, uống thêm 1-2 ly sữa, hoặc ăn 1-2 bữa phụ.

3.2. Chất đạm

Chất đạm từ chế độ ăn của mẹ sẽ được chuyển đến thai để tổng hợp chất đạm của thai. Lượng đạm ăn vào của mẹ sẽ ảnh hưởng đến chiều dài tiềm năng có thể đạt được của thai nhi. Bà mẹ mang thai cần tăng hơn lúc chưa mang thai khoảng 15g chất đạm mỗi ngày (nghĩa là phải thêm vào chế độ ăn hàng ngày khoảng 80-100 thịt hoặc cá, 2 cái trứng, hoặc 1 ly sữa và 1 miếng phô mai).

Sử dụng các thực phẩm chứa đạm trong bữa ăn hàng ngàySử dụng các thực phẩm chứa đạm trong bữa ăn hàng ngày

Theo đó, mẹ bầu nên chọn loại thực phẩm giàu đạm có giá trị sinh học cao như thịt, cá, trứng, sữa (hoặc các chế phẩm từ sữa), sản phẩm từ đậu nành… Thịt, cá, trứng còn là thực phẩm giàu chất sắt, kẽm, vitamin A. Sữa còn chứa nhiều canxi, photpho, vitamin A, vitamin nhóm B,…

3.3. Canxi

Canxi từ mẹ được chuyển cho thai để hình thành xương và răng. Trong 6 tháng đầu, bà mẹ dự trữ canxi trong xương. Một phụ nữ suy trì dinh dưỡng tốt trước mang thai sẽ dự trữ trên 1000g canxi để sử dụng. Khi hệ xương thai nhi phát triển làm nhu cầu canxi tăng cao trong 3 tháng cuối, thai nhi sẽ rút canxi từ kho dự trữ của mẹ. Do đó, nếu bà mẹ không nhận đủ canxi từ thức ăn thì sẽ có nguy cơ cao bị hư răng và loãng xương về sau này. Nhu cầu canxi của bà mẹ mang thai là 1000mg/ngày.

Một số thực phẩm giàu canxi mẹ bầu có thể thêm vào chế độ ăn hàng ngày như: sữa, chế phẩm từ sữa, rau xanh, đậu nành, cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ. 1 ly sữa 200ml cung cấp khoảng 240 mg canxi.

3.4. Sắt

Bà mẹ mang thai cần lượng sắt rất cao để chuyển cho thai nhi, hình thành bánh nhau, lượng máu của mẹ tăng thêm khi mang thai, và bù đắp cho lượng sắt mất khi sinh nở. Tổng lượng sắt cần cho mẹ trong suốt thai kỳ là khoảng 840mg. Trên thực tế, hầu hết các bà mẹ khi mang thai đều không có đủ lượng sắt dự trữ cần thiết cho thai kỳ.

Cần bổ sung sắt vì hầu hết các bà mẹ khi mang thai đều không có đủ lượng sắt dự trữ cần thiết chao thai kỳCần bổ sung sắt vì hầu hết các bà mẹ khi mang thai đều không có đủ lượng sắt dự trữ cần thiết chao thai kỳ

Sắt có trong thịt (đặc biệt là thịt đỏ như thịt heo, thịt bò), cá, lòng đỏ trứng, rau xanh, đậu đỗ. Sắt từ thực phẩm nguồn gốc động vật sẽ dễ hấp thu hơn sắt từ nguồn thực vật. Tuy nhiên, nếu dùng thực phẩm giàu vitamin C cùng bữa ăn sẽ giúp tăng hấp thu chất sắt nguồn gốc thực vật. Ngược lại, trà, cà phê, ca cao sẽ ức chế hấp thu sắt nguồn gốc thực vật nên cần dùng cách xa bữa ăn.

Mặc dù bà mẹ mang thai có thể ăn nhiều thực phẩm giàu chất sắt nhưng vẫn không thể đáp ứng nhu cầu chất sắt tăng rất cao trong thai kỳ. Do đó, để bảo đảm đủ lượng sắt dự trữ cho mẹ, cung cấp đủ nhu cầu cho thai và phòng ngừa thiếu sắt ở mẹ, Viện dinh dưỡng khuyến nghị bà mẹ mang thai nên uống thêm viên sắt bổ sung với liều 60mg sắt nguyên tố kết hợp 0,4mg acid folic mỗi ngày từ khi phát hiện có thai đến ít nhất 1 tháng sau sanh.

3.5. I-ốt

Bà mẹ cần nhận đủ i-ốt trong thai kỳ để tạo hormone tuyến giáp giúp phát triển hệ thần kinh trung ương của thai nhi. Iốt có thể được cung cấp cho cơ thể từ thức ăn chế biến từ vật nuôi, cây trồng trên đất giàu iốt. Tuy nhiên, nước ta là vùng bị thiếu iốt nên vật nuôi, cây trồng cũng đều bị thiếu. Do đó, để phòng ngừa thiếu iốt một cách hiệu quả thì bà mẹ mang thai nên sử dụng muối iốt hàng ngày (nêm lạt) trong ăn uống và chế biến thực phẩm.

3.6. Kẽm

Bà mẹ mang thai cần khoảng 15 mg kẽm từ chế độ ăn hàng ngày. Thiếu kẽm thường xảy ra ở những bà mẹ có chế độ ăn chủ yếu là ngũ cốc, ít thực phẩm nguồn gốc động vật, nhiều chất ức chế hấp thu kẽm (phytate có trong thực phẩm nguồn gốc thực vật), hoặc bà mẹ bị bệnh đường tiêu hoá (viêm tá tràng, hỗng hồi tràng, giảm tiết dịch vị) ảnh hưởng đến hấp thu kẽm hoặc đa thai. Do đó, những bà mẹ này cần được bổ sung kẽm.

Kẽm có nhiều trong thức ăn nguồn gốc động vật, có rất ít trong thức ăn từ thực vật (trừ mầm của các loại hạt).

3.7. Vitamin A

Chế độ ăn của bà mẹ cần có thực phẩm giàu tiền sinh tố A (rau xanh đậm, củ quả vàng cam đậm) và vitamin A (thịt, cá, trứng, sữa). Cần hết sức thận trọng khi dùng thuốc có chứa vitamin A cho bà mẹ mang thai vì vitamin A liều cao có thể gây dị tật ở thai nhi. Vitamin A cung cấp từ thực phẩm thường sẽ an toàn hơn và không đến mức gây hại. Tuy nhiên, bà mẹ mang thai không nên ăn quá nhiều gan vì gan rất giàu vitamin A.

Các bà mẹ mang thai nên ăn những thực phẩm chứa vitamin A thay vì uống thuốc chứa vitamin ACác bà mẹ mang thai nên ăn những thực phẩm chứa vitamin A thay vì uống thuốc chứa vitamin A

3.8. Vitamin D

Vitamin D rất cần thiết để tăng hấp thu canxi vào cơ thể. Bà mẹ cần thường xuyên ra ánh nắng mặt trời (buổi sáng sớm hoặc chiều muộn) để da được tiếp xúc ánh nắng giúp chuyển tiền vitamin D dưới da thành vitamin D. Đối với những bà mẹ không tiếp xúc ánh nắng trong suốt thai kỳ thì cần được bổ sung vitamin D. Tuy nhiên, không nên sử dụng liều cao vitamin D trong suốt thai kỳ.

3.9. Folate và vitamin B12

Folate cần thiết để tạo ống thần kinh của thai nhi trong những tuần đầu thai kỳ, giai đoạn sau folate cần cho quá trình phân bào, tăng trưởng và tạo hồng cầu. Nhu cầu folate trong suốt thai kỳ là 400μg/ngày. Cung cấp đủ folate đặc biệt quan trọng đối với người mang thai nhiều lần, thiếu máu mãn tính hoặc dùng thuốc chống co giật.

Điều khác biệt so với các dưỡng chất khác là hiệu quả hấp thu folate giảm và bài tiết lại gia tăng trong thai kỳ. Đây là yếu tố quan trọng khiến cho thiếu folate trong thai kỳ trở nên là vấn đề quan trọng đáng quan tâm.

Có thể tăng folate trong khẩu phần bằng cách: chọn ăn thực phẩm giàu folate (mầm lúa mì, gan, thận, đậu đỗ, các loại hạt, rau xanh, trái cây đặc biệt là cam, dâu tây, lê, dưa hấu), ăn thực phẩm bổ sung folate, hoặc bổ sung acid folic dưới dạng thuốc. Tuy nhiên, nếu chỉ ăn thực phẩm giàu folate sẽ rất khó đạt được nhu cầu. Do đó, bên cạnh chế độ ăn thực phẩm chứa nhiều folate thì bà mẹ mang thai cần được bổ sung khoảng 0,4mg acid folic mỗi ngày bằng thực phẩm được bổ sung acid folic hoặc thuốc bổ có acid folic.

Vitamin B12 cũng cần thiết cho quá trình phân bào và tạo hồng cầu. Đối với những phụ nữ mang thai ăn chay trường rất cần được bổ sung vitamin B12, bởi đây là một loại vitamin chỉ có ở thực phẩm nguồn gốc động vật.

3.10. Nước

Uống đủ nước là điều cần thiếtUống đủ nước là điều cần thiết

Bà mẹ mang thai cần uống tối thiểu khoảng khoảng 2 lít nước mỗi ngày để đủ nước cho tiêu hoá, hấp thu, chuyển hóa các dưỡng chất, đào thải những sản phẩm chuyển hoá không cần cho cơ thể, và cũng để tránh táo bón. Bên cạnh nước chín, bà mẹ mang thai nên chọn các loại thức uống cung cấp dưỡng chất cần cho cơ thể để đạt nhu cầu khuyến nghị (nước trái cây tươi, sữa…).

3.11. Thuốc bổ

Những bà mẹ mang thai có chế độ ăn không đủ nhu cầu dinh dưỡng (như kém dung nạp lactose, ăn chay, ăn kiêng, hoặc đa thai) thì cần được bổ sung thuốc bổ đa sinh tố hoặc khoáng chất để giảm nguy cơ khiếm khuyết phát triển trí não, cải thiện chức năng miễn dịch.

4. Chế độ dinh dưỡng trong các giai đoạn của thai kỳ

4.1. Dinh dưỡng trong 3 tháng đầu

Đây là giai đoạn hình thành các cơ quan, tổ chức của thai như tủy sống, tim, gan, phổi, não,… nên cần tăng cường tiêu thụ các thực phẩm giàu đạm như trứng, thịt, sữa, các loại đậu,… Đồng thời, cần đảm bảo dinh dưỡng hợp lý, khắc phục tình trạng nghén để đạt mức tăng cân phù hợp là khoảng 1kg/tháng.

Ngoài việc bổ sung đầy đủ dinh dưỡng trong chế độ ăn, bà mẹ mang thai trong 3 tháng đầu cần uống bổ sung viên sắt và axit folic theo liều lượng được bác sĩ chỉ định để phòng ngừa thiếu máu và nguy cơ con bị dị tật. Khi uống viên sắt và axit folic, thai phụ có thể gặp phải một số tác dụng phụ như buồn nôn, táo bón nhưng không gây hại gì và thường mất đi sau vài tuần.

4.2. Dinh dưỡng trong 3 tháng giữa

Chế độ dinh dưỡng trong thai kỳ rất quan trọngChế độ dinh dưỡng trong thai kỳ rất quan trọng

Đây là giai đoạn thai nhi phát triển nhanh nên cần đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng của bà mẹ mang thai. Theo đó, khẩu phần ăn của thai phụ trong giai đoạn 3 tháng giữa nên tăng 250 kcal/ngày (tương đương 1 bát cơm và lượng thức ăn hợp lý).

Ngoài ra, 3 tháng giữa thai kỳ cũng là giai đoạn phát triển về khung xương và chiều cao của trẻ nên người mẹ cần chú ý ăn các thực phẩm giàu canxi và kẽm như trứng, sữa, tôm, cua, thủy sản,…

4.3. Dinh dưỡng trong 3 tháng cuối

Đây là giai đoạn thai nhi phát triển cân nặng nhanh nhất nên thai phụ cần đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ để đáp ứng nhu cầu của thai nhi, tránh tình trạng suy dinh dưỡng bào thai. Về khẩu phần ăn, người mẹ nên tăng 450 kcal/ngày, tương đương 2 bát cơm và có lượng thức ăn hợp lý.

Ngoài ăn cơm đủ no, bà mẹ mang thai cần bổ sung thêm chất đạm và chất dinh dưỡng vào chế độ ăn của mình để góp phần xây dựng, phát triển cơ thể trẻ.

Xem thêm: Quả chanh tốt cho sức khoẻ – bạn đã biết chưa?

Tags

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Close